2 Đề thi thử tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn - Năm học 2022-2023 - PDG&ĐT Can Lộc (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "2 Đề thi thử tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn - Năm học 2022-2023 - PDG&ĐT Can Lộc (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
2_de_thi_thu_tuyen_sinh_vao_lop_10_mon_ngu_van_nam_hoc_2022.docx
Nội dung tài liệu: 2 Đề thi thử tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn - Năm học 2022-2023 - PDG&ĐT Can Lộc (Có đáp án)
- PHÒNG GD&ĐT CAN LỘC ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2022 – 2023 MÃ ĐỀ 01 MÔN: Ngữ văn Thời gian làm bài: 90 phút (Đề thi gồm có 02 trang) Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm). Đọc đoạn lời bài hát: “Hãy sống như đời sông để biết yêu nguồn cội Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao Hãy sống như biển trào, như biển trào để thấy bờ bến rộng Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la? Và sao không là phù sa dâng mỡ màu cho hoa? Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa? Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư?...” (Trích lời bài hát Khát vọng - Phạm Minh Tuấn) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Xác định từ láy và tìm ít nhất 2 từ ghép có trong đoạn trích. Câu 3. Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ em cho là nổi bật nhất trong đoạn. Câu 4. Theo em tác giả muốn nhắn nhủ điều gì trong những ca từ sau: “Hãy sống như đời sông để biết yêu nguồn cội Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao...” Phần II. Làm văn (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) suy nghĩ về ý nghĩa của khát vọng sống và cống hiến. Câu 2. (5,0điểm). Cảm nhận diễn biến tâm trạng của nhân vật Phương Định trong đoạn trích sau: “ Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ theo dõi mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới. Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng
- Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặt là mặt trời nung nóng. Chị Thảo thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi. Dây mìn dài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mình. Hồi còi thứ hai của chị Thao. Tôi nép người vào bức tường đất, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi cũng đập không rõ. Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng. Nhưng quả bom nổ. Một thứ tiếng kì quái, đến váng óc. Ngực tôi nhói, mắt cay mãi mới mở ra được. Mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếg nổ nữa tiếp theo. Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thầm trong những bụi cây. Mảnh bom xé không khí, lao và rít vô hình trên đầu.”.. (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi, Ngữ văn 9, tập hai, trang 117-118) .HẾT Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên: ; số báo danh:
- PHÒNG GD&ĐT CAN LỘC ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2022 – 2023 MÃ ĐỀ 02 MÔN: Ngữ văn Thời gian làm bài: 90 phút (Đề thi gồm có 02 trang) Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm). Đọc đoạn trích: Con thân yêu người bạn nhỏ của cha Mẹ là cây con là trái là hoa Trong gian khổ con là mầm xanh biếc. Buổi ra đời thấy trời cao có ngợp Con hãy nhìn vào mắt mẹ con ơi Đời chông gai vẫn mong con ra đời Bài thơ đẹp cha dành cho buổi ấy. Mẹ bấm ngón tay mong con lắm đấy Cha chờ con càng yêu mẹ của con Thay đổi đời cha sinh nở đời con Mẹ là bến của mênh mông biển thắm Mẹ là mái che đời cha mưa nắng Con là cánh buồm cha gửi đến mai sau.” (Gửi em và con - Lưu Quang Vũ) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt của đoạn thơ. Câu 2. Xác định từ láy và tìm ít nhất 2 từ ghép có trong đoạn thơ. Câu 3. Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ em cho là nổi bật nhất trong đoạn. Câu 4. Theo em, trong đoạn thơ người cha muốn nhắn nhủ với con điều gì? Phần II. Làm văn (7,0 điểm). Câu 1. (2,0 điểm). Từ nội dung của đoạn thơ trong phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương, sự quan tâm giữa những người thân trong gia đình. Câu 2. (5,0 điểm). Cảm nhận diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong đoạn truyện: “ Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi: - Nó Nó vào chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng? Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh: - Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa. Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến
- không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: - Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại - Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại. Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi cơ ông ạ. Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô. Thằng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại. Có người hỏi: - Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà? - Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: - Hà, nắng gớm, về nào Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú: - Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát! Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên: - Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này! Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy! Nhưng sao lại nẩy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa? ” (Trích Làng, Kim Lân, Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2014, tr.165-166) .HẾT Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên: ; số báo danh:
- HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT I. Hướng dẫn chung: - Giám khảo nắm vững yêu cầu của đề bài để đánh giá tổng quát năng lực của thí sinh (năng lực nhận biết, thông hiểu và vận dụng), đảm bảo đánh giá theo định hướng phát triển năng lực; chỉ cho điểm tối đa cho từng câu khi thí sinh đạt yêu cầu cả về kiến thức và kĩ năng. - Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể. Nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho điểm. Trân trọng những bài viết sáng tạo, giàu chất văn, liên hệ tốt, có tư duy phản biện; kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. II. Hướng dẫn cụ thể: Yêu cầu kiến thức – kĩ năng Điểm Mã đề 01 Câu I. ĐỌC HIỂU 3,00 Câu 1 a. Phương thức biểu đạt chính của của đoạn trích là: biểu cảm 0,5 Câu 2 -Tìm từ láy trong đoạn trích : mênh mông, bao la 0,25 - Xác định đúng hai từ ghép 0,25 Câu 3 b. - Học sinh có thể lựa chọn và chỉ rõ biện pháp tu từ mà mình 0,25 cho là nổi bật nhất trong số các biệp pháp sau: điệp ngữ, so sánh, câu hỏi tu từ, liệt kê c. + Điệp ngữ : hãy sống như, và sao không là d. + So sánh : sống như đời sông, sống như đời núi... + Liệt kê: sông, núi, biển, gió, mây... + Câu hỏi tu từ: Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la?... - Học sinh phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ 0,75 đã chọn, đảm bảo các ý cơ bản sau: + Nhấn mạnh và làm nổi bật thông điệp khát vọng sống, sống mạnh mẽ, sâu sắc sống đẹp, sống có ích; hóa thân vào thiên nhiên, tạo vật để dâng hiến chân thành và tự nguyện những giá trị của bản thân cho con người và cuộc đời; hãy sống hết mình với khao khát và đam mê, tô điểm cho cuộc đời để biến cuộc sống của mình trở nên ý nghĩa nhất. + Làm cho từng lời ca giàu hình ảnh, nhịp điệu; cảm xúc chân thành, tha thiết, tác động mạnh đến người nghe, người đọc + Thể hiện được tình yêu cuộc sống, lẽ sống đẹp và thái độ sống
- nhiệt tình, trách nhiệm của tác giả. Câu 3 Theo em tác giả muốn nhắn nhủ điều gì trong những lời ca sau: 1,00 “Hãy sống như đời sông để biết yêu nguồn cội Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao...” -> Tác giả nhắn nhủ sống phải biết ơn với nguồn cội, với đạo lí truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn”; sống với ý chí mạnh mẽ và khát vọng vươn tới vượt qua khó khăn thử thách để khẳng định mình, đi đến thành công và đóng góp cho cuộc đời. II. Tập làm văn: Câu 1 Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết một 2,0 đoạn văn (khoảng 200 từ) suy nghĩ về ý nghĩa của khát vọng sống và cống hiến. a. Đảm bảo hình thức của đoạn văn; dung lượng theo yêu cầu 0,25 của đề; nội dung bàn luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý. b. Triển khai vấn đề nghị luận, đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau: 1,25 - Khát vọng là biểu tượng cho những gì lớn lao, tốt đẹp mà con người hướng đến và khao khát đạt được cho bản thân mình và cho cộng đồng. Khát vọng sống và cống hiến là khao khát, mơ ước và nỗ lực không ngừng để sống tốt đẹp, đóng góp cho cuộc đời. Khát vọng sống và cống hiến có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời của mỗi người. - Khát vọng sống và cống hiến là trạng thái tâm lí, tư tưởng mang tính tích cực của con người, thể hiện được giá trị cao đẹp của nhân cách con người; những người có khát vọng sống và cống hiến sẽ luôn tràn đầy nhiệt huyết, có niềm say mê và sáng tạo không ngừng; họ sẽ luôn tràn đầy niềm lạc quan và ý chí nghị lực vượt qua mọi khó khăn, hướng tới và làm nên những điều tốt đẹp mang lại hạnh phúc cho mình và cho cuộc đời; người có khát vọng sống và cống hiến sẽ luôn tự nhìn nhận, tự điều chỉnh hoàn thiện mình để đạt được trạng thái tinh thần, thể chất tốt nhất và đạt hiệu quả công việc cao nhất; người có khát vọng sống và cống hiến mạnh mẽ sẽ có động lực gặt hát được nhiều thành công, nhận được sự yêu, mến, cảm phục, tin tưởng, hỗ trợ từ mọi người xung quanh; bên cạnh đó, họ sẽ lan tỏa được những năng lượng tích cực và thông điệp tốt đẹp ra xã hội để người khác học tập theo
- ( Thí sinh lựa chọn và đưa ra một số dẫn chứng tiêu biểu) - Tuy nhiên khát vọng sống và cống hiến phải đi đôi với việc tu dưỡng đạo đức, trau dồi năng lực và học hỏi không ngừng cùng với hành động, việc làm thiết thực. Phê phán những người thiếu khát vọng sống và cống hiến; sống vô cảm, bi quan, ích kỉ, hưởng thụ, dựa dẫm hoặc ước mơ, khát vọng viển vông, xa rời thực tế - Bài học nhận thức, hành động cho bản thân. c. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25 Đảm bảo chuẩn về chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. d. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có 0,25 cách diễn đạt chặt chẽ, thuyết phục Câu 2 Cảm nhận diễn biến tâm trạng của nhân vật Phương Định trong 5,0 đoạn trích sau: “ Vắng lặng đến phát sợ Mảnh bom xé không khí, lao và rít vô hình trên đầu.”.. (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi, Ngữ văn 9, tập hai, trang 117-118) a. Đảm bảo cấu trúc 3 phần của bài văn nghị luận văn học: Mở 0.25 bài giới thiệu được vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được các luận điểm; Kết bài khái quát, gợi mở được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận diễn biến tâm 0.25 trạng của nhân vật Phương Định trong đoạn truyện. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt 4.0 các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, biết trích dẫn và phân tích dẫn chứng để luận điểm có sức thuyết phục, bài viết có cảm xúc, rung động chân thực... HS có thể trình bày theo nhiều cách. Dưới đây là một phương án triển khai: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm; giới thiệu và cảm 0,5 nhận khái quát về tâm trạng của Phương Định trong đoạn truyện. - Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, giới thiệu vài nét về nhân vật 0,25đ Phương Định. Tóm tắt đoạn trước, nêu vị trí và nội dung đoạn truyện trong đề. - Phân tích, cảm nhận tâm trạng nhân vật Phương Định trong 2đ đoạn truyện: + Dẫu quen với sự tàn khốc của chiến tranh, Phương Định vẫn
- cảm thấy căng thẳng trước sự hoang tàn và vắng lặng tuyệt đối sau trận bom; điều đó càng cho thấy tính chất nguy hiểm của nhiệm vụ hàng ngày cô phải thực hiện + Cô cảm thấy có thêm động lực, sức mạnh, sự vững tin khi nghĩ đến đồng đội Đó là điểm tựa tinh thần kích thích lòng tự trọng khiến cô mạnh mẽ hơn, can đảm hơn để hiên ngang bước tới...; cô bình thản trước quả bom – hiện thân của sự chết chóc và hiểu được tính chất nguy hiểm của công việc + Ở bên cạnh quả bom, kề sát với cái chết im lìm, cô bình tĩnh, dứt khoát thực hiện các thao tác phá bom; cẩn thận chính xác, nhanh gọn từng li từng tí; một sự tập trung cao độ, sắc nhọn đến từng cảm xúc ; cô cảm nhận trong tích tắc và phán đoán mau lẹ tính chất công việc, bình thản giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, vượt qua nỗi sợ hãi và căng thẳng, dồn hết tâm trí, chạy đua với thời gian để hoàn thành nhiệm vụ nhanh nhất và an toàn nhất có thể Đây là một thử thách tâm lí thể hiện được sức mạnh phi thường, bản lĩnh, tinh thần thép của Phương Định + Lúc chờ bom nổ, miêu tả sự tĩnh lặng của không gian, sự tương phản giữa thời gian tâm lí và thời gian vật lí, trạng thái của xúc của bản thân càng làm nổi rõ được tâm trạng hồi hộp, căng thẳng, lo lắng tột độ của Phương Đinh. Toàn bộ tâm trí cô hướng vào quả bom, nhưng ngay cả cảm giác ấy cũng trở nên quá quen thuộc bởi công việc nguy hiểm đến khủng khiếp này như bóp nghẹt trái tim Phương Định không chỉ một lần trong đời mà là hàng ngày “Quen rồi ”. Lúc này Phương Định nghĩ về cái chết nhưng nó chỉ là một khái niệm mờ nhạt, bởi tâm trí cô tập ttrung vào một mục tiêu rõ ràng, quan trọng hơn: nhiệm vụ. Điều này thể hiện lòng dũng cảm tinh thần trách nhiệm mà cơ sở là lòng yêu nước, khát vọng hòa bình + Tâm trạng và cảm giác khi bom nổ càng làm nổi bật tính chất khốc liệt và sự nguy hiểm trong mỗi lần phá bom vừa tô đậm được sự dũng cảm, can trường của Phương Định cũng như những cô thanh niên xung phong trên chiến trường. ( HS bám sát đoạn trích và biết vận dụng những hiểu biết về 0,75 nhân vật trong tác phẩm để phát triển ý sâu rộng và đúng trọng tâm; song song với việc cảm nhận diễn biến tâm trạng là làm nổi
- bật được sự khốc liệt của chiến tranh, tính chất nguy hiểm của công việc phá bom và vẻ đẹp của nhân vật Phương Định cũng như nhận xét về ngòi bút miêu tả tâm lí hết sức tinh tế của tác giả) - - Đánh giá, mở rộng: + Trong đoạn truyện, để khắc họa thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật Phương Định, nhà văn Lê Minh Khuê đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lí khi bà đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Nhờ vậy, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật – tâm lí Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Cách xây dựng tình huống truyện gay cấn, ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung, nữ tính + Cùng với diễn biến tâm trạng, cảm xúc thể hiện vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn của Phương Định được diễn tả trong các đoạn khác của truyện ngắn, đoạn trích này đã giúp người đọc hình dung một bức chân dung tinh thần hoàn chỉnh của Phương Định. Cô cùng với nhân vật Nho, chị Thao trở thành những cô thanh niên xung phong mang vẻ đẹp của “Những ngôi sao xa xôi” ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiêu biểu cho vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ. + Liên hệ các tác phẩm khác cùng chủ đề, đề tài - Khái quát vấn đề nghị luận và nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản 0,5 thân được khơi gợi từ nội dung đoạn truyện và tác phẩm. d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề 0.25 nghị luận. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ 0.25 pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. ------------ HẾT ------------ HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM Yêu cầu kiến thức – kĩ năng Điểm Mã đề 2 Câu I. ĐỌC HIỂU 3,00 Câu 1 e. Phương thức biểu đạt chính của của đoạn trích là: biểu cảm 0,5 Câu 2 f. -Từ láy có trong đoạn thơ: mênh mông 0,25
- g. - Xác định đúng hai từ ghép 0,25 Câu 3 h. - Học sinh có thể lựa chọn và chỉ rõ biện pháp tu từ mà mình 0,25 cho là nổi bật nhất trong số các biệp pháp sau: điệp ngữ, so sánh, ẩn dụ i. + So sánh: mẹ là cây, con là trái, là hoa,... là mầm xanh biếc j. + Điệp ngữ: mẹ là k. + Ẩn dụ: chông gai, mưa nắng.. 0,75 - Học sinh phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ đã chọn, đảm bảo các ý cơ bản sau: + Nhấn mạnh tình cảm yêu thương, tin tưởng và hi vọng của người cha giành cho vợ và con. Những điều này đã tạo nên một tình cảm vô cùng thiêng liêng xuyên suốt cả đoạn thơ. l. + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu tha thiết cho lời thơ, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn sự gắn bó yêu thương của cha, mẹ và con. Câu 4 m. Học sinh đưa ra những cách hiểu về điều người cha nhắn gửi đến 1,00 đứa con chưa chào đời của mình, có thể là: n. - Con là kết tinh tình yêu thương, hạnh phúc của cha mẹ. o. - Cha mẹ mong chờ và đặt tất cả niềm tin, hi vọng ở con. p. - Giữa cha mẹ và con có một sợi dây gắn kết thiêng liêng, bền chặt không thể tách rời... q. - Mẹ có một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời của cha và con cũng như trong mái ấm gia đình... II. Tập làm văn: Câu 1 Từ nội dung của đoạn thơ trong phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương, sự quan tâm giữa những người thân trong gia đình. a. Đảm bảo hình thức của đoạn văn; dung lượng theo yêu cầu 0,25 của đề; nội dung bàn luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý. b. Triển khai vấn đề nghị luận, đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau: 1,25 - Gia đình là tập hợp người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái. Trong gia đình có sự yêu thương, che chở của cha mẹ với con cái; sự quan tâm, chăm sóc của ông bà với các cháu; sự đùm bọc, yêu
- thương của anh chị em... Tình yêu thương và sự quan tâm đó có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời của mỗi người. - Tình yêu thương và sự quan tâm giữa những người thân là tình cảm thiêng liêng cao đẹp, là chuẩn mực đạo đức truyền thống muôn đời của dân tộc ta, là một biểu hiện của đạo đức con người; tình yêu thương và sự quan tâm là nền tảng vững chắc cho một gia đình hạnh phúc; là bến đỗ bình yên neo đậu tâm hồn mỗi người; sẽ mang lại niềm vui ấm áp, trở thành động lực và sức mạnh tinh thần giúp mỗi người vượt qua khó khăn thử thách, phấn đấu không ngừng; nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và định hướng lối sống tốt đẹp cho mỗi người, nhất là thế hệ trẻ; biết yêu thương và quan tâm tới người thân trong gia đình sẽ được đón nhận lại niềm vui, hạnh phúc, sự tôn trọng và tin tưởng ; từ tình yêu thương và sự quan tâm trong gia đình, mỗi người sẽ có trái tim giàu lòng nhân ái, biết cảm thông và sẻ chia với những người xung quanh, là nền tảng cho một xã hội tiến bộ, văn minh ( Thí sinh lựa chọn và đưa ra một số dẫn chứng tiêu biểu) - Phê phán những người thờ ơ, vô cảm thậm chí tàn nhẫn ngay cả chính với người thân của mình, sống ích kỉ chỉ biết biết hưởng thụ và đón nhận mà không biết trân trọng, vun đắp - Bài học nhận thức, hành động cho bản thân. c. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn về chính tả, ngữ 0,25 nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. d. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có 0,25 cách diễn đạt chặt chẽ, thuyết phục Câu 2 Cảm nhận về diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong đoạn truyện: “ Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa? “ (Trích Làng, Kim Lân, Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2014, tr.165-166) a. Đảm bảo cấu trúc 3 phần của bài văn nghị luận văn học: Mở 0.25 bài giới thiệu được vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được các luận điểm; Kết bài khái quát, gợi mở được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận diễn biến tâm 0.25 trạng của nhân vật ông Hai trong đoạn truyện. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt 4.0
- các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, biết trích dẫn và phân tích dẫn chứng để luận điểm có sức thuyết phục, bài viết có cảm xúc, rung động chân thực... HS có thể trình bày theo nhiều cách. Dưới đây là một phương án triển khai: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm; giới thiệu và cảm 0,5 nhận khái quát về tâm trạng của ông Hai trong đoạn truyện. - Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, giới thiệu vài nét về nhân vật 0,25đ ông Hai. Tóm tắt đoạn trước, nêu vị trí và nội dung đoạn truyện trong đề. - Phân tích, cảm nhận tâm trạng nhân vật ông Hai trong đoạn 2đ truyện: + Sự phấn khởi, hồ hởi khi ở phòng thông tin ra đã biến mất, thay vào đó là nỗi lo lắng xâm chiếm tâm trí ông khi nghe tin giặc Pháp vào khủng bố làng chợ Dầu thể hiện rất rõ ở cử chỉ, lời nói . Trong nỗi lo sợ cho làng quê vẫn ánh lên niềm tin vững chắc về tinh thần kháng chiến của làng. + Tâm trạng bàng hoàng, sững sờ, choáng váng lúc vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, tin sét đánh đó giáng cho ông một đòn cân não nặng nề khiến ông suy sụp hẳn: đau đớn đến mức như không điều khiển được thân thể của chính mình; tủi hổ nhục nhã, khiến ông tái tê, biến đổi cả sắc mặt, giọng nói. Dẫu đau đớn, tủi nhục ông vẫn cố bấu víu vào một tia hi vọng rằng đó chỉ là sự nhầm lẫn, là một lời đồn đại vô căn cứ nhưng không thể không đối mặt với thực tế phũ phàng + Từ giây phút đó, ông chìm vào tâm trạng đau đớn, tủi nhục, chán nản, tuyệt vọng -> Tủi nhục, chán nản -> Ông lo lắng, xót xa, trằn trọc cho số phận của những đứa con sẽ bị khinh bỉ, hắt hủi vì là trẻ con làng Việt gian -> Uất ức, căm giận, giằng xé nội tâm giữa tin và không tin, nhưng rồi trước những chứng cứ hiển' nhiên, ông đành cay đắng chấp nhận sự thật và nỗi nhục nhã lại sôi réo trong lòng ông -> Ông Hai lại càng hoang mang, lo sợ cho tương lai bao nhiêu người làng ở nơi tản cư, cho tương lai cả gia đình. Ông rơi vào trạng thái bế tắc tuyệt vọng mở đầu cho một chuỗi ngày suy sụp, ám ảnh với nỗi sợ hãi khi phải đối diện với cuộc sống xung
- quanh ( HS bám sát đoạn trích và biết vận dụng những hiểu biết về 0,75 nhân vật trong tác phẩm để phát triển ý sâu rộng và đúng trọng tâm; song song với việc cảm nhận diễn biến tâm trạng là làm nổi bật đượcbối cảnh lịch sử, lí giải được nguyên nhân sâu xa dẫn đến những chuyển biến tâm trạng của ông Hai, từ đó phân tích để làm nổi bật những chuyển biến mới trong nhận thức của ông: yêu làng gắn với yêu nước và tinh thần kháng chiến. Trong quá trình phân tích nội dung cần kết hợp nhận xét về ngòi bút miêu tả tâm lí hết sức tinh tế của tác giả) - Đánh giá, mở rộng: + Nghệ thuật: Lối kể chuyện giản dị, tự nhiên, ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ; chọn được một tình huống khá độc đáo là sự thử thách bên trong bộc lộ chiều sâu tâm trạng; ngòi bút phân tích tâm lí sắc sảo: tâm lý nhân vật được nhà văn miêu tả cụ thể, gợi cảm qua các diễn biến nội tâm, qua các ý nghĩ, cảm giác, hành vi, ngôn ngữ, diễn tả đúng và gây được ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật; vận dụng tài tình các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại .) + Nội dung: Kim Lân đã diễn tả chân thực, sâu sắc, xúc động diễn biến tâm trạng qua đó khắc họa được những tình cảm cao đẹp và những chuyển biến mới trong nhận thức của ông Hai. + Đoạn trích đã góp phần làm nổi bật chủ đề, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Ông Hai là nhân vật tiêu biểu điển hình về người nông dân trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, người nông dân yêu làng, yêu nước, có niềm tin tuyệt đối vào cách mạng. Qua nhân vật ông Hai, ta thấy được nhận thức của người nông dân về cuộc kháng chiến và trong cuộc kháng chiến chống Pháp họ đã góp phần làm lên thiên sử vàng vẻ vang của dân tộc. Thấy được nghệ thuật miểu tả nhân vật tài tình của nhà văn Kim Lân cũng như tình cảm gắn bó, quý trọng người nông dân của nhà văn. + Liên hệ mở rộng: Liên hệ các tác phẩm khác cùng chủ đề, đề tài - Khái quát vấn đề nghị luận và nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản 0,5 thân được khơi gợi từ nội dung đoạn trích và tác phẩm. d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề 0.25
- nghị luận. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ 0.25 pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. ------------ HẾT ------------

