SKKN Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_kinh_nghiem_trong_viec_ren_doc_cho_hoc_sinh_lop.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 MỤC LỤC Nội dung Trang Phần I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 Phần II. NỘI DUNG 3 1. Đánh giá thực trạng 3 1.1. Thuận lợi 3 1.2. Khó khăn 3 2. Biện pháp 4 2.1. Luyện đọc đúng 4 2.2. Luyện đọc diễn cảm 7 Phần III. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TRONG 10 THỰC TẾ DẠY HỌC Phần IV. KẾT LUẬN 10 1. Ý nghĩa 10 3. Kiến nghị đề xuất 11 1
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Phần I. PHẦN MỞ ĐẦU I.Lí do chọn sáng kiến Trong chương trình tiểu học môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là môn học có chức năng “kép” (vừa là môn công cụ, vừa là môn khoa học). Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nói và nghe) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Đặc biệt là trong Chương Trình GDPT 2018, phần Đọc có một vị trí hết sức quan trọng trong môn tiếng Việt nhất là trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học đọc. Mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đọc để học. Dạy học tập đọc ở Tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa. Thông qua “Đọc” mà trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn học văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái đẹp, cái thiện, có thái độ ứng xử tốt trong cuộc sống, yêu tiếng Việt. Bên cạnh đó Phần Đọc còn có nhiệm vụ cung cấp ngữ liệu để hình thành và phát triển các kỹ năng khác được quy định trong chương trình. Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để phần khác trong một bài Tiếng Việt như : Viết, Nói và nghe, Luyện tập khai thác. Chính vì vậy việc dạy Đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Bên cạnh đó “Đọc” là cơ sở tiền đề để các em học tốt các môn học khác và giúp học sinh gia tiếp tốt. Thực tế qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ học sinh còn đọc chậm, phát âm sai, ngắt nghỉ chưa đúng. Việc luyện đọc từ khó – giảng từ của giáo viên còn nhiều bất cập, nên giờ học đã kết thúc mà có khi học sinh chưa được tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái dí dỏm trong nội dung bài tập đọc hoặc giáo viên tham nói, tham giảng từ dài dòng mà học sinh không được luyện đọc bài. Được trực tiếp giảng dạy và qua dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy tình trạng này diễn ra không phải là ít. Người giáo viên cần làm gì? Làm như thế nào? để tiết học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy Tập đọc là điều tôi còn băn khoăn, trăn trở. Thông qua giảng dạy tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp và một phần những việc làm mà bản thân đã khám phá ra trong giảng dạy với một mong muốn tìm ra các biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2 để nâng cao hiệu quả giờ tập đọc. Nhằm chia sẻ những gì đã tích lũy được qua thực tế giảng dạy, tôi xin giới thiệu biện pháp “Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2” 2
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Phần II. NỘI DUNG 1. Đánh giá thực trạng Thực trạng tình hình dạy học của giáo viên và việc học của học sinh qua điều tra cụ thể là: Đầu năm học khi có ý định làm đề tài này tôi đã trao đổi với các đồng nghiệp trong khối, xin thăm lớp dự giờ các tiết tập đọc ở khối. Qua dự giờ sau các tiết dạy tôi có nhận xét sau: 1.1.Thuận lợi 1.1.1. Giáo viên Nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chương trình GDPT 2018 là một chương trình mở, nên giáo viên được tự chủ trong việc xây dựng Kế hoạch dạy học và tự điều chỉnh neeus thấy không phù hợp. Giáo viên có đầy đủ sách giáo khoa, sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, có được hỗ trợ từ các trang mạng, các nhóm dạy học, hành trang số. Có năng lực sư phạm, kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh; luôn tích cực tự học và sáng tạo. 1.1.2. Học sinh Học sinh đã quen với cách đọc từ lớp 1 nên các em đã biết cách đọc, tìm hiểu bài và lĩnh hội kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đặc biệt, với chương trình mới, các em được học các kĩ năng sống qua các tiết học và hoạt động ngoại khóa nên một số em đã mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp hơn. Nhiều học sinh đọc rất hay mặc dù yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra đối với học sinh lớp 2. Thông qua luyện đọc học sinh bước đầu đã hiểu nghĩa từ chìa khoá để hiểu nội dung bài tập đọc, có khả năng nghe và nhận xét bạn đọc. Học sinh ngoan, hiền, biết vâng lời... 1.2. Khó khăn 1.2.1. Giáo viên - Khả năng đọc diễn cảm của giáo viên còn hạn chế. Đôi khi còn bị lẫn âm do phương ngữ. - Trong quá trình luyện đọc đôi khi còn áp đặt học sinh đọc theo ý muốn chủ quan của mình. - Một số ít giáo viên do chuẩn bị bài chưa kĩ nên chưa nắm đầy đủ nội dung, dẫn đến chưa chủ động trong việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh. 1.2.2. Học sinh - Một số em đọc còn chậm, phải đánh vần một số tiếng có vần khó, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu l/n; tr/ch; s/x; n/ng ; về kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại, các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình. Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu là giới hạn những câu đối thoại của mình . - Mặt khác, do sự thiếu chú ý nên việc hiểu nội dung bài chưa sâu cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thể hiện giọng đọc không tốt. - Ngoài ra, ở lớp 1, do dịch bệnh covid kéo dài, thời gian học online của các em đã chiếm một nửa thời gian việc học của các em nên điều này cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến kĩ năng đọc của các em. 3
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Ở nhà của HS còn thiếu một phần quan tâm của gia đình, dẫn đến các em lơ là trong việc học. Ảnh hưởng đến chất lượng học nói chung và đọc nói riêng. * Kết quả khảo sát Tổng số Tháng 9/2022 Nội dung SL % Phát âm đúng 27 20 Ngắt, nghỉ 27 17 đúng Nhấn giọng tốt 27 7 Diễn cảm 27 5 Kết quả khảo sát cho thấy số học sinh mắc lỗi phát âm, đọc ngắt giọng còn nhiều, rất ít bạn biết nhấn giọng và đọc diễn cảm tốt . Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả về khả năng đọc cho học sinh lớp 2 như sau. 2. Biện pháp 2.1. Luyện đọc đúng 2.1.1. Phát âm đúng Luyện phát âm đúng thực chất là luyện ngữ âm cho học sinh. Để giúp học sinh phát âm đúng, người giáo viên cần nắm được tiêu chí phát âm và cấu hình miệng khi phát âm âm đó. Ví dụ: phát âm ngắn gọn hay kéo dài, chuyển động của lưỡi từ khi bắt đầu đến khi kết thúc âm ra sao, bật hơi hay không bật hơi. Âm đó phát ra hơi từ trong họng ra hay hơi đi vào, Thống kê lỗi phát âm ở lớp, tôi quy về các loại sau: - Sai phụ âm đầu: s/x; tr/ch Sai vần ac/at; ân/anh/ênh; ươn/ương; on/ong - Sai dấu ngã thành hỏi và nhieuf khi ngược lại. Để dạy cho học sinh phát âm đúng, tôi không quên rèn kĩ năng nghe. Ở đây vai trò giọng đọc của giáo viên rất quan trọng. Giữa nghe và phát âm có mối quan hệ rất chặt chẽ cho nên rèn luyện kĩ năng nghe cũng hỗ trợ rất nhiều cho kĩ năng đọc. Lỗi mà học sinh còn phát âm sai do 2 nguyên nhân : + Nguyên nhân chủ quan : như nói lắp , nói ngắn lưỡi, khó đọc do tật bẩm sinh . Ví dụ : s / x : sung / xung , sâu / xâu , sống/ xống + Nguyên nhân khách quan : do cách phát âm sai của phương ngữ tạo cho các em thói quen nghe và nói từ khi nhớ . Để chữa lỗi phát âm sai tôi dùng biện pháp giảng giải trên cơ sở lí thuyết ngữ âm và ý nghĩa từ . Cho học sinh luyện đọc lại từ ngữ phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần. Học sinh lớp tôi thường đọc sai lỗi phát âm: “s/x; d/gi”; vần “ân/anh”; “it/ich" Khi hướng dẫn học sinh, tôi chú ý phân tích cho các em sự khác biệt giữa các phụ âm, hiểu được hệ thống môi, răng, lưỡi phải kết hợp như thế nào, khi nào thì tròn môi, khi nào thì mở rộng miệng hơi thoát ra. Ví dụ: Khi học sinh đọc lẫn các tiếng có phụ âm đầu là “s”, tôi dừng lại sửa cho các em bằng cách: hướng dẫn các em đọc răng khít, luồng hơi đi ra bị cản; những tiếng có phụ âm đầu “x” đọc đầu lưỡi hơi cong, môi trề, bụng hơi hóp lại. Giáo viên làm mẫu rồi hướng dẫn học sinh thực hiện. Học sinh lắng nghe mẫu-lặp lại. Luyện cho các em đọc đúng âm rồi đến đúng tiếng vì có đọc âm đúng thì tiếng mới đúng được. Bên cạnh đó, phân biệt cho các em hiểu nghĩa của từ cũng giúp các em hiểu và đọc đúng. 4
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Ví dụ: “sâu” và “xâu”: Ở mức độ nhận thức của các em học sinh lớp 2, giáo viên giải nghĩa từ ở mức độ đơn giản sao cho các em dễ hiểu và phân biệt được: “sâu” là khoảng cách từ miệng hoặc bề mặt đến đáy như ao sâu, giếng sâu...; hay chỉ loại côn trùng phá hoại nông nghiệp như con sâu, sâu bọ ... hoặc chỉ trạng thái bị hư hỏng như sâu răng, mía sâu ...; “xâu”: xuyên qua vật bằng sợi dây hoặc que như: xâu cá, xâu cua, xâu kim hay chỉ sự tranh giành như xâu xé... Khi các em đã được luyện tập nhiều lần, giáo viên tổ chức cho các em tự nhận xét và nhận xét lẫn nhau và chỉ cho các em những chỗ chưa được. Cứ như vậy nhiều lần, các em hiểu và tiến bộ rõ rệt. Tốc độ đọc yêu cầu đối với học sinh trong chương trình lớp 2 mới là 60 – 70/ phút. Đối với những em đọc chậm, giáo viên rèn đọc cho học sinh bằng cách sau: Đơn vị đọc là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên đo tốc độ bằng cách chọn sẵn bài có số lượng tiếng cho trước và dự tính đọc trong bao nhiếu phút. Dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tùy theo mức độ khó của từng bài mà giáo viên đề ra yêu cầu với quỹ thời gian nhất định. Ví dụ bài: “Cây xấu hổ” sách Tiếng Việt lớp 2 tập 1 trang 31 đọc trong vòng 4 phút là đạt yêu cầu. Bên cạnh đó, một số học sinh còn đọc chưa đúng những tiếng có dấu hỏi, ngã. Giáo viên phải tuyệt đối phát âm chuẩn và giải thích rõ cách phát âm từng tiếng đó. Ví dụ: Khi đọc từ “ngẫm nghỉ” sau khi đọc mẫu xong, giáo viên cần giải thích thêm: + Tiếng “ngẫm|” có thanh ngã phát âm cao, rõ, luồng hơi phát ra dài, âm thanh vang dài. + Tiếng “nghỉ |” có thanh hỏi phát âm trầm, giọng thấp luồng hơi phát ra ngắn, âm thanh vang ngắn Sau khi giải thích rõ cách phát âm từng tiếng, giáo viên đọc mẫu lại và gọi học sinh đọc. Nếu học sinh đọc chưa được thì có thể lặp lại vài lần để các em đọc đúng. Để sửa cho các em đọc đúng người giáo viên phải kiên trì liên tục và có hệ thống. Thông thường các em rất ngại đọc vì sợ các bạn chê cười, chế nhạo cho nên người giáo viên phải giải toả tâm lí cho học sinh bằng lời lẽ của mình. Đồng thời phải giải thích cho học sinh cùng lớp để các em có ý thức tự sửa lỗi và cùng giúp bạn sửa chữa. 2.1.2. Đọc đúng văn bản: Khi đọc bài tập đọc, một số học sinh lớp tôi hay đọc sai, không đúng với văn bản. Đó là các em hay đọc thiếu từ hoặc thêm từ không có trong văn bản. Để giúp các em đọc đúng từ, câu trong bài tập đọc, tôi thường quan tâm và theo dõi sát từng em khi đọc bài. Có nghe và chú ý theo dõi mới giúp học sinh nhận ra được những chỗ mình đọc chưa đúng và sửa ngay cho học sinh khi đọc nối tiếp câu, còn khi đọc trong đoạn thì cho những em khác nhận xét. Điều đó vừa giúp các bạn trong lớp theo dõi bạn đọc vừa phát hiện ra những chỗ các bạn đọc thêm từ hoặc thiếu từ. Tôi dừng lại và nhắc các em cần theo dõi và đọc đúng các từ có trong bài tránh thêm hoặc bớt từ, thay từ. Việc làm đó cần làm thường xuyên và liên tục trong tất cả các tiết tập đọc. Có như vậy các em mới nhận ra và sửa được lỗi của mình. Ví dụ: Bài “Tớ nhớ cậu”- sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 tập 1 trang 82 có câu: “Một lá thư nhè nhẹ bay xuống.” Học sinh đọc như sau: “Một lá thư nhẹ nhàng bay xuống.” Học sinh đã tự thay từ “ nhè nhẹ” bằng từ “ nhẹ nhàng”vào câu văn. 5
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Hay bài : “ Cây xấu hổ”- sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tập 1 trang 31 có câu: “ Những chiếc lá khô lạt xạt lướt trên cỏ.” Học sinh đọc như sau: “ Những chiếc lá khô lạt xạt trên cỏ”. Học sinh đã bỏ đi từ “ lướt” khi đọc câu văn. 2.1.3. Ngắt, nghỉ đúng Khi đọc một văn bản nếu ngắt, nghỉ hơi chưa phù hợp sẽ dẫn đến hiểu sai về nội dung văn bản. Do vậy giáo viên cần chú trọng hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi đúng. Trước hết, cần hướng dẫn các em nghỉ hơi ở những chỗ kết thúc dấu câu. Các dấu (dấu chấm, chấm hỏi, hai chấm, dấu ba chấm) ở cuối câu hoặc ngăn cách câu với nhau, cần nghỉ hơi bằng khoảng thời gian đọc một tiếng. Khi đọc câu có dấu (gạch ngang, ngoặc đơn, dấu phẩy, chấm phẩy) ở giữa câu thời gian ngắt hơi bằng nửa quãng nghỉ hơi sau dấu chấm. Trong trường hợp dấu kết thúc câu cũng là dấu kết thúc đoạn để xuống dòng, quãng nghỉ sẽ gấp đôi khoảng thời gian phát âm một tiếng. Cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc tuyệt đối không được tách từ ra làm hai. Ví dụ: Có học sinh khi đọc, ngắt giọng: “Khi trang sách /mở ra/ Khoảng trời xa/ xích lại/ Bắt đầu là /cỏ dại/ Thứ đến là /cánh chim/ Sau nữa là /người lớn/ Cuối cùng là /trẻ con.//” Trích Khi trang sách mở ra, Tiếng Việt 2 tập 1 trang 66 Tôi phải chỉ cho học sinh thấy được khi ngắt giọng như vậy làm cho người nghe khó hiểu hoặc hiểu sai nghĩa của từ. Phải đọc là: “Khi trang sách mở ra/ Khoảng trời xaxích lại/ Bắt đầu/ là cỏ dại/ Thứ đến/ là cánh chim/ Sau nữa/ là người lớn/ Cuối cùng/ là trẻ con.//” Cũng có khi học sinh đọc nhầm như ngắt quãng giữa một tiếng. Khi tôi dạy bài "Một giờ học” Tiếng Việt 2 tập 1 trang 27, có em đọc: “(VD: Quang thở mạnh một hơi/ rồi nói tiếp:/ “Mẹ ờ bảo:/ “Con đánh răng đi”.// Thế là con đánh răng.”. Nhưng mà trong trường hợp này không ngắt hơi mà đọc kéo dài giọng chỗ có dấu chấm lửng. Khi đọc các bài văn xuôi cũng vậy, việc ngắt giọng phải phù hợp với dấu câu. Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, trùng hợp với ranh giới ngữ đoạn. Trên thực tế học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu trúc phức tạp hoặc mắc lỗi ngay ở câu ngắn. Nhưng các em chưa nắm được quan hệ ngữ pháp giữa các từ. Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể, giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng. Ví dụ: Bài: “Tôi là học sinh lớp 2” Tiếng Việt 2 tập 1 trang 10, học sinh thường ngắt như sau: “Nhưng vừa đến cổng trường,/ tôi đã thấy mấy bạn cùng lớp đang ríu rít /nói cười ở trong sân.//” “Ngay cạnh chúng tôi,/ mấy em lớp 1 đang rụt rè níu chặt tay bố mẹ,/ thật giống tôi năm ngoái.” 6
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 Vì thế, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh ngắt đúng: “Nhưng vừa đến cổng trường,/ tôi đã thấy mấy bạn cùng lớp/ đang ríu rít nói cười/ ở trong sân.//” “Ngay cạnh chúng tôi,/ mấy em lớp 1/ đang rụt rè/ níu chặt tay bố mẹ,/ thật giống tôi năm ngoái.” 2.2. Luyện đọc diễn cảm 2.2.1. Luyện nhấn giọng, ngắt giọng biểu cảm Muốn rèn cho các em đọc diễn cảm thì trước hết phải rèn cho các em đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng biểu cảm. Bên cạnh dạy học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp còn cần phải dạy ngắt giọng biểu cảm, nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa. Ví dụ : Đó là chỗ ngừng lâu hơn trong các câu thơ cuối bài : “Vẫn gọi hoài : Bê! Bê!.” Bên cạnh dấu kết thúc câu hoặc ngăn cách các bộ phận, còn có một số dấu câu có tác dụng đặc biệt là: dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng. Ví dụ : Ngắt quãng giữa tiếng hoặc từ “ - À .ờ Em ngủ dậy.” Bài “Một giờ học” Tiếng Việt 2 tập 1 trang 55. Trong trường hợp này các em cần nghỉ hơi ở chỗ có dấu chấm lửng một quãng bằng thời gian phát âm một tiếng. - Nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và cho học sinh nhớ lâu, tôi yêu cầu các em đọc thể hiện nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm ; sau đó lớp nhận xét, sửa chữa nếu thấy cần thiết. Ví dụ : Trong bài “Cây xấu hổ” Tiếng Việt 2 tập 1 trang 31. Khi đọc, giáo viên phải lưu ý học sinh đọc nhấn giọng ở các từ ngữ in đậm, thể hiện sự hối hận, thương bạn. “Bỗng dưng, gió ào ào nổi lên.” 2.2.2. Luyện đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là đọc văn bản sao cho giọng điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả trong văn bản. Đọc diễn cảm có nhiều mức độ: - Biết thể hiện ngữ điệu (Sự thay đổi cao độ, trường độ của giọng đọc) phù hợp với từng loại câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến). - Biết đọc giọng phân biệt lời kể của tác giả và lời nhân vật - Biết đọc phân biệt lời của của các nhân vật. Để giúp học sinh rèn đọc diễn cảm, tôi rất quan tâm đến việc cho học sinh cảm thụ nội dung văn bản. Từ đó các em biết thể hiện ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong đoạn văn. * Đối với văn bản văn xuôi: Ví dụ bài : Em có xinh không( TV2- sách Kết nối - Trang 24) GV đọc đúng lời đối thoại của các nhân vật trong bài Em có xinh không? Thể hiện sự hồn nhiên, đáng yêu của voi em, hay sự ngạc nhiên của voi anh khi nhìn thấy voi em. Đồng thời khi đọc còn thể hiện điệu bộ, cử chỉ của nét mặt tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn cho học sinh: 7
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 - Em có xinh không? - Trời ơi, sao em lại thêm sừng và râu thế này ? Xấu lắm! Ví dụ : Bài '' Tớ nhớ câu. ''.( TV2- Trang 82) Toàn bài đọc với giọng linh hoạt. Câu có dấu chấm cảm thì đọc lên cao giọng. '' A, thư của sóc! ''(Thể hiện sự vui mừng khi kiến nhận được thư của sóc.) * Đối với văn bản thơ: Học sinh đọc văn xuôi đã khó, đọc văn vần lại càng khó hơn. Khi đọc văn vần cần chú ý tiết tấu của đoạn văn. Tiết tấu là nhịp điệu của âm nhạc, ở sách tiếng việt lớp 2 có nhiều thể văn vần chúng ta thường gặp như: Thơ lục bát, thơ đường, thơ 5 chữ, thơ 4 chữ, thơ tự do. Ở đây không phải thể thơ nào cũng giống nhau phải thay đổi theo tiết tấu của câu, bài thơ theo thể thơ nào . - Đọc thơ 5 chữ theo nhịp 2/3 hoặc 3/2 Ví dụ : Bài thơ '' Khi trang sách mở ra”( TV2- Trang 66) Khi trang sách mở ra/ Khoảng trời xa xích lại/ Bắt đầu/ là cỏ dại/ Thứ đến/là cánh chim/ Sau nữa/là trẻ con/ Cuối cùng là người lớn.// - Khi đọc thơ lục bát thường đọc ngắt nhịp 2/4 (ở câu 6 chữ ) và nhịp 4/4 (ở câu 8 chữ ). Ví dụ : Bài thơ '' Mẹ ''( TV2- Trang 116- Sách Kết nối) Lặng rồi / cả tiếng con ve Con ve cũng mệt/ vì hè nắng oi Nhà em/ vẫn tiếng ạ ơi Kẽo cà tiếng võng/ mẹ ngồi mẹ ru. Qua việc giảng dạy và thực tế trên lớp để giúp học sinh đọc diễn cảm, người giáo viên cần phải thực hiện các nội dung sau: Tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy để hiểu rõ và cảm thụ sâu sắc bài, giúp học sinh đọc có hiệu quả hơn. Giáo viên soạn bài cần ghi vắn tắt cách đọc, cách ngắt nhịp, cách nhấn giọng, sắc thái tình cảm đọc, giọng điệu của từng nhân vật. Cần ghi rõ từ nhấn mạnh ( hoặc gạch chân) những đoạn câu cần ghi trọng âm, kí hiệu ngắt ( / ), nghỉ ( // ), lên giọng ( ), xuống giọng ( ), kéo dài ( ). Trong từng bài giáo viên sẽ dự tính những lỗi học sinh sẽ mắc, giọng đọc cả bài, đoạn cần nhấn mạnh, tốc độ đọc. Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học, đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau. Cảm thụ tốt giúp cho việc đọc tốt hơn. Tuy nhiên, đối với học sinh lớp 3 đọc đúng, đọc diễn cảm chưa cao nên việc đọc đúng của học sinh cần chú trọng hơn. Ở đây viêc đọc ngắt giọng, nhấn giọng được chú ý vào những học sinh đã đọc tốt và yêu cầu đọc ở cuối kì I. Khi học sinh đã đọc chuẩn, nhanh thì trong mỗi tiết học tôi không cảm thụ thay học sinh, mà khêu gợi vốn hiểu biết sẵn có của học sinh phát huy tư tưởng của các em để tái hiện được bức tranh mà tác giả vẽ lên bằng ngôn ngữ sinh động. Ngoài việc giúp học sinh học tốt thì bản thân giáo viên cũng phải luôn rèn luyện kĩ năng đọc, đặc biệt là đọc diễn cảm để làm gương cho học sinh noi theo và yêu 8
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 thích đọc, đồng thời thúc đẩy văn hóa Đọc trong học sinh. Bởi đó là một điều rất quan trọng góp phần nuôi dưỡng niềm đam mê đọc sách, học sinh thoát khỏi các phương tiện hiệm đại như ti vi, điện thoại làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe. 9
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 3. Hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến Tôi đã áp dụng những biện pháp trên ở lớp 2 do tôi chủ nhiệm năm học 2022- 2023 và thấy có kết quả rõ rệt. Một số em đọc còn chậm, chưa đúng đã dần đọc đúng, tốc độ đọc đảm bảo như em: Linh, Quân, Hân. Nhiều em đã biết ngắt, nghỉ đúng chỗ: Xuân Hưng, Bằng. Đặc biệt trong lớp còn thi đua nhau đọc to, rành mạch, diễn cảm. Các em đã biết đọc thể hiện đúng giọng đọc, biết thay đổi ngữ điệu phù hợp với nhân vât như Tuấn, Trinh, An, Ly, Ngọc, Bắc...Tôi còn nhìn thấy được các em đã cảm nhận được sự buồn vui khi các em đọc các văn bản văn, thơ.Nhiều em còn tìm đọc truyện ở thư viện, mua truyện đọc. Thật sự đã khơi dậy được niềm ham thích đọc ở các em. Kết quả cụ thể: Nội Tổng số Tháng 9/2022 Đến tháng 12/2022 Tăng dung SL SL % SL % Phát âm đúng 27 17 21 5 Ngắt, nghỉ 27 15 20 5 đúng Nhấn giọng 27 7 10 3 tốt Diễn cảm 27 4 6 3 Phần III. KẾT LUẬN 1. Bài học kinh nghiệm Muốn nâng cao chất lượng hiệu quả của các giờ dạy Tập đọc để học sinh đọc đúng đọc hay, bước đầu cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ thì khâu luyện đọc - rèn đọc đúng có vai trò rất quan trọng. Học sinh có đọc đúng mới hiểu đúng nội dung, mới diễn tả được cảm xúc của mình. Rèn đọc cho học sinh không thể nóng vội mà phải hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em có thói quen và niềm say mê đọc sách. Rèn cho các em đức tính chịu khó, cẩn thận trong khi luyện đọc. Làm tốt việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên. Để làm tốt việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 trong phần Đọc; người giáo viên phải làm tốt những việc sau: - Giáo viên nhất định phải phát âm, đọc, nói, đúng, hay, diễn cảm bởi chúng ta làm nghề dạy học, một nghề sử dụng ngôn ngữ làm công cụ. Là người thầy đầu tiên đặt nền móng, trang bị cho trẻ em ý thức về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn văn hóa của lời. - Phải đầu tư thời gian cho khâu chuẩn bị bài, xây dựng tổ chức các hoạt động cho học sinh trên lớp học. - Giáo viên phải kiên trì, thường xuyên rèn luyện cho học sinh. Khen thưởng, động viên, khuyến khích học sinh kịp thời. - Kích thích, phát huy vai trò chủ động của học sinh trong việc tìm ra cách đọc của bài. - Kết hợp luyện đọc trong tất cả các phân môn khác, thường xuyên phối kết hợp với phụ huynh để nắm bắt việc luyện đọc bài ở nhà của học sinh. 10
- Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 2. Kiến nghị, đề xuất: - Về phía Nhà trường: Nhà trường và khối tổ chức các chuyên đề về luyện đọc để giáo viên rút kinh nghiệm và học tập. Tổ chức các sân chơi ngoại khoá về tiếng Việt. Tổ chức Hội thi đọc diễn cảm. - Về phía giáo viên: Người giáo viên phải trau dồi kinh nghiệm, tìm đọc các tài liệu để tự học nâng cao trình độ chuyên môn, học hỏi các kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp và chuẩn bị bài thật tốt. Nghe đọc mẫu các bài trên mạng để luyện thêm giọng đọc của mình. Với Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2, tôi hi vọng rằng giúp các em nâng cao khả năng đọc của mình. Đồng thời thông qua đó góp phần nhỏ bé giúp bản thân cũng như đồng nghiệp có cái nhìn đúng hơn về vấn đề “Đọc” để từ đó rèn cho các em biết: Đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm. Với thời gian có hạn nên chắc rằng những giải pháp mà tôi đưa ra chưa hẳn là tối ưu. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của ban giám khảo và các bạn đồng nghiệp để biện pháp của tôi thêm hoàn chỉnh và mong muốn được nhân rộng. Tôi xin chân thành cảm ơn./. Thanh An, ngày 21 tháng 11 năm 2022 Xác nhận cuả thủ trưởng đơn vị Người viết Phạm Thị Toan 11

