SKKN Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5

doc 10 trang hongchi 29/07/2026 380
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_ren_chu_viet_cho_hoc_sinh_lop_5.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5

  1. PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Sở Giáo dục - Đào tạo Quảng Trị và phòng GD&ĐT Cam Lộ, nhận thức được rằng, việc rèn viết chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh là một trong những nhiêm vụ quan trọng của giáo viên nhằm giúp HS học tốt hơn. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói : “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài của mình”. Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường ngồi với chiếc máy vi tính của mình để soạn thảo một văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy. Việc rèn chữ viết của mọi người bị chìm vào quên lãng. Ở trong trường tiểu học cũng vậy, trong những năm học gần đây, học sinh viết chữ xấu là một tình trạng đáng báo động. Mặt khác, chữ viết của khá nhiều giáo viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết của học sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để học sinh soi rọi vào đó. Lứa tuổi của học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt chước”, có thể, giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế đó. Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết. Nếu phân môn tập đọc - học vần giúp trẻ biết đọc thông thì phân môn tập viết sẽ giúp trẻ viết thạo. Trẻ đọc thông, viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn. Kết quả việc rèn chữ viết cho học sinh không phải ngày một, ngày hai mà có được. Mà đó là kết quả của một quá trình dày công khổ luyện của cả thầy và trò, dưới sự dìu dắt, chăm sóc tận tình của các thầy giáo, cô giáo. Để giúp các em hạn chế lỗi chính tả, nâng dần chất lượng về kỹ năng viết, đặc biệt là học sinh cuối cấp. Vì thế, nên tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 5”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Việc nghiên cứu đề tài tìm ra một số giải pháp hướng dẫn học sinh rèn chữ viết đúng, đẹp nhằm nâng cao chất lượng dạy-học trở thành một yêu cầu bức thiết đối với mỗi giáo viên ; đặc biệt là đối với các lớp có học sinh yếu. Vì vậy, tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là giúp học sinh khắc phục việc viết chữ: (chưa đều, chưa đẹp, chưa đúng chính tả chưa đúng độ cao và chưa đúng mẫu). - học yếu) III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu quá trình dạy-học; chữ viết của Gv và học sinh( trình bày chữ viết trong hồ sơ- bảng đen của giáo viên; tập vở của HS hoặc cách các em trình bày bảng lớp, phiếu học tập,.....) IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM: - Học sinh lớp 5 A – Trường tiểu học trần văn Ơn. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Nghiên cứu lý luận +Sử dụng tài liệu giáo dục tiểu học - PGS-TS: Đặng Vũ Hoạt
  2. +Phương pháp dạy học Tiếng Việt - PGS-TS: Nguyễn Quang Minh + Một số luật chính tả Tiểu học: - Tác giả: Lê Thị Thu Huyền 2. Nghiên cứu thực tế: - Khảo sát thực tế GV, HS. - Thực hiện phương pháp điều tra - Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp - Sử dụng phương pháp thực nghiệm, đối chiếu, so sánh. VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU(thời gian nghiên cứu, thời gian bắt đầu và kết thúc): - Thời gian bắt đầu từ tháng 9/2017 đến hết tháng 5/2018 PHẦN II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận: Nghiên cứu nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp. Nghiên cứu quá trình dạy-học; chữ viết của Gv và học sinh( trình bày chữ viết trong hồ sơ- bảng đen của giáo viên; tập vở của HS hoặc cách các em trình bày bảng lớp, phiếu học tập,.....), rút kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp. Đề ra phương hướng cho công tác rèn chữ viết trong giai đoạn tiếp theo. II. Cơ sở thực tiễn: 1. Thực trạng chữ viết của giáo viên và học sinh: - Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường ngồi với chiếc máy vi tính của mình để soạn thảo văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy. Nên việc rèn chữ viết của mọi người cũng có phần hạn chế. - Đối với khối 4+5: Nội dung bài dạy dài; kiến thức rộng nên số lượng chữ trình bày nhiều. Để viết đủ nội dung đồng thời phải kịp thời gian dạy, đôi lúc giáo viên phải viết nhanh, không phải nắn nót từng đường nét như khối 1-2 được. Chính vì thế, chữ viết một số giáo viên không được chuẩn. - Về phía học sinh: Năm học 2017 - 2018, tôi tiếp tục được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5A. + Tổng số: 19 em + Trong đó có: 8 em nam và 11 em nữ. - Mồ côi bố: 1 em( Uyên); - Bố mẹ đi xa ở với ông bà: 1 em( 1 Bản) - HS mới chuyển đến: 1 em( học yếu)-ở với ông bà( Hoàng) - Mặc dầu sau một năm làm công tác chủ nhiệm lớp(4A lên 5 A), lớp tôi có nhiều tiến bộ về đọc- viết. Tuy vậy, vẫn còn một số em chữ viết còn xấu, không đúng ô, đúng mẫu, đúng khoảng cách Viết tùy tiện, cẩu thả, viết chữ khômg đều. Chữ viết còn rời rạc chưa liền mạch. Chữ viết hoa chưa đúng mẫu. Kết quả khảo sát như sau: Kết quả kiểm tra viết Số lần kiểm tra TSHS A B C D 19/ 11 nữ Khảo sát đầu năm 09 06 03 01 Kiểm tra cuối năm
  3. Ví dụ: Em: Võ Ngọc Nguyên thường sai lổi: p/q; ch/ tr; Thái Thị Như Ý: sai vần ang/ anh; thiếu dấu, chữ nhỏ; Nguyễn Phương Uyên, Hồ Châu Đan Nhi, Hồ Yến Nhi, Võ Nhật Long: nhầm lẫn giữa s/x ) Nguyễn Đình Hoàng( mới chuyển đến) ở với ông bà nội: là học sinh học yếu, nhút nhát, đọc viết rất chậm. 2. Nguyên nhân: Qua quá trình giảng dạy một năm( lớp 4), tôi nhận thấy rằng các em đã có nhiều tiến bộ song vẫn còn hiện tượng HS viết chữ chưa đúng mẫu, đúng tốc độ do một số nguyên nhân chủ yếu sau: a. Về phía HS: - Một số HS do mất gốc từ các lớp dưới( nhận dạng mặt chữ còn chậm, khả năng ghép tiếng, từ chưa nhanh...)dẫn đến chán nản, lười học. - Một số khác do ảnh hưởng phương ngữ địa phương như (s - x) ( vần ân-anh) - Mặt khác, do sự thiếu chú ý nên việc hiểu nội dung bài chưa sâu cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thể hiện chữ viết không tốt. - Ngoài ra, việc học ở nhà của HS còn thiếu một phần quan tâm, săn sóc của gia đình, dẫn đến các em lơ là trong việc học. Ảnh hưởng đến chất lượng học nói chung và đọc nói riêng. Việc đọc chưa thông thạo dẫn đến viết sai, viết không đẹp là điều tất yếu. - Tay cầm bút chưa đúng quy định. - Một số em không nắm được các quy tắc chính tả, nắm không chắc cấu tạo các con chữ và kỹ năng viết đúng dẫn đến sai ngay từ những giờ Tiếng Việt đầu tiên của cấp học; một số học sinh có tính cẩu thả và sự thờ ơ không quan tâm, nói sao viết vậy; do ảnh hưởng của phương ngữ cũng góp phần làm nên lỗi chính tả. b. Về phía giáo viên: - Khi lớp có học sinh đọc yếu, giáo viên còn lúng túng, chưa có giải pháp phù hợp để rèn viết cho học sinh. Bên cạnh, nhiều giáo viên ngại gọi các em luyện đọc trong tiết Tập đọc vì sợ mất nhiều thời gian. - Một số giáo viên chưa đặc biệt quan tâm đến việc chấm chữa bài nghiêm túc, chặt chẽ đối với việc viết sai lỗi chính tả ở phân môn Chính tả và Tập làm văn.... - Khi luyện viết tiếng khó, từ khó, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo mà chưa hướng dẫn các em phân biệt với một số từ mà các em dễ nhầm lẫn khi viết. - Chữ viết của giáo viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết của học sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để học sinh soi rọi vào đó. Lứa tuổi của học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt chước”, có thể giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế đó. 3. Cách tiến hành: Từ việc đọc sai sẽ dễ dẫn đến việc viết sai. Nếu như các em đọc đúng hơn có thể sẽ viết ít sai lỗi chính tả hơn. Vì vậy, chúng ta đã giải quyết được một phần quan trọng trong khâu viết yếu, viết sai chính tả. Tuy nhiên, để khắc phục hạn chế việc viết sai chính tả đến mức thấp nhất, chúng ta cũng cần rèn thêm một số biện pháp sau:
  4. a. Biện pháp 1: Chuẩn bị chu đáo và dạy tốt các giờ chính tả trong chương trình: Đối với lớp 4+5 cách hướng dẫn viết từ khó được nâng dần lên khác với lớp 1,2,3. Vì thế, trước mỗi tiết học, giáo viên dặn các em đọc kỹ bài viết ở nhà. Đến tiết học Chính tả, giáo viên giúp học sinh phát hiện, phân tích kỹ tiếng khó, từ khó viết, so sánh, phân biệt với những tiếng, từ dễ nhầm lẫn; hướng dẫn viết hoa danh từ riêng. Đặc biệt lưu tâm đến HS thường hay mắc lỗi, viết xấu. + Yêu cầu học sinh tìm và nêu tiếng, từ khó viết. + Yêu cầu 1 HS viết bảng lớp- số còn lại viết bảng con + GV cùng HS nhận xét phân tích sửa độ cao, nét khuyết của các con chữ, cách đánh dấu thanh, lỗi chính tả... ( nếu cần). Ví dụ: Khi dạy bài Chính tả ( nghe-viết): Lương Ngọc Quyến (TV5 Tập 1 trang 17) - Yêu cầu HS đọc thầm, phát hiện một số từ khó như: xích sắt, Đội Cấn; lãnh đạo, + Yêu cầu 1 HS viết bảng lớp, lớp viết bảng con từng từ để tiện theo dõi. + Nhận xét bài viết dưới lớp sau đó yêu cầu học sinh nhận xét bài viết của bạn trên bảng lớp. Nếu sai, thì giáo viên sửa lại bằng cách viết tiếng, từ đúng bằng phấn khác màu sang một bên để học sinh đối chiếu. + Gọi HS đọc lại những tiếng, từ vừa luyện viết trước khi viết bài vào vở. - Hằng ngày trong giờ lên lớp, ngoài việc thực hiện đúng tiến trình giờ dạy, tôi luôn quan tâm tới việc sửa từng nét chữ khi học sinh luyện giấy nháp cũng như luyện vở viết. Ví dụ: Học sinh lớp tôi hay viết sai nét khuyết, thường các em viết quá nhỏ hoặc quá to thẳng nét, quá cao hoặc quá ngắn. Trong lúc viết tôi đặc biệt chú ý trực tiếp sửa ngay cho các em. Hay một số em chưa viết đúng quy trình: viết đến chữ cái nào đánh dấu ngay chữ cái đó chứ không viết liền mạch rồi mới quay lại đánh dấu thanh, dẫn đến các con chữ trong một tiếng rời rạc, mất thời gian nhấc bút nhiều lần. Các tiếng có phụ âm đầu dễ lẫn như: s, x học sinh hay viết sai, viết bài nào tôi cố gắng chọn ra những chữ tiêu biểu có phụ âm để học sinh viết giấy nháp và lưu ý trước khi viết phải nghe cô giáo phát âm thế nào rồi mới viết cho chính xác. Đồng thời, tôi luôn cố gắng phát âm thật đúng, rõ để học sinh có thói quen nghe cô phát âm để viết chữ đúng. Rèn chữ không những chỉ để học sinh có nét chữ đẹp mà phải viết đúng chính tả. Trong phần bài tập của giờ chính tả đã giúp các em rất nhiều trong việc viết đúng và phân biệt lỗi chính tả đúng sai. Vì vậy khi làm bài tập chính tả tôi thường tổ chức cho học sinh chơi để các em nắm bài chắc lâu hơn. Ví dụ: Khi làm bài tập Thi tìm nhanh các tiếng bắt đầu s hay x, tôi tổ chức cho các em thi tiếp sức đội nào tìm được nhiều từ viết đúng thì đội đó thắng cuộc. - Trước khi học sinh viết, chúng ta cần phải quan tâm đến tư thế, cách cầm bút, đặt vở.
  5. - Khi học sinh viết vở tôi thường đi đến chỗ các em nhất là các em hay viết sai, viết chưa đẹp để uốn nắn, động viên để các em viết đúng tiến tới viết đẹp. b. Biện pháp 2: Chú trọng việc chấm bài và sửa lỗi chính tả: Sau khi đã hướng dẫn học sinh phân tích kỹ các tiếng, từ khó viết, học sinh viết xong bài chính tả và soát lỗi, giáo viên tiến hành chấm bài và sửa lỗi cho các em. Vì thời gian có hạn nên giáo viên không thể nào chấm bài cho tất cả học sinh cả lớp trong một tiết học. Vì vậy, thông thường giáo viên chấm tại lớp khoảng từ 5 đến 7 bài. Những chữ viết sai, giáo viên gạch chân và viết đúng theo thứ tự bằng mực đỏ xuống sau bài viết kèm theo lời nhận xét cụ thể để học sinh biết những lỗi mình bị mắc. - Giáo viên nên thường xuyên chọn bài của những em thường viết sai nhiều lỗi chính tả để kiểm tra theo dõi sự tiến bộ của các em. Đồng thời, khi sửa lỗi, giáo viên cần chú ý chọn lỗi mà nhiều học sinh viết sai, lỗi phổ biến xuất hiện nhiều để sửa chung cho cả lớp. Sau khi sửa lỗi trên lớp, giáo viên yêu cầu các em về nhà tự sửa lỗi bằng cách viết vào vở mỗi chữ viết sai thành một dòng chữ viết đúng để ghi nhớ lâu hơn. Còn đối với những em viết sai nhiều lỗi quá( nhiều hơn 5 lỗi), thì yêu cầu các em về nhà nhìn sách chép lại bài đó một lần. Đến đầu giờ Chính tả tuần sau các nhóm kiểm tra. (học sinh giỏi kèm bạn yếu của nhóm) rồi báo cáo cho giáo viên hoặc giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách yêu cầu các em viết những tiếng, từ mắc lỗi phổ biến ở tiết trước để biết được sự tiến bộ của các em để có biện pháp khắc phục. Ví dụ: Khi chấm bài: Chính tả ( nghe-viết): Lương Ngọc Quyến (TV5 Tập 1 trang 17) Tôi đã phát hiện nhiều em viết sai lỗi: + s/x( Uyên; Yến Nhi; Long; Như; Như Ý; từ xích sắt ( viết thành sích sắt) + ân/anh ( có em Nguyên, Như ý): Đội Cấn-Đội Cánh Lãnh đạo-lẫn đạo Sau đó yêu cầu HS viết vào vở luyện viết ở nhà 2-3 dòng tiếng hoặc từ vừa sửa lổi. c. Biện pháp 3- Luyện tập chữ viết khi học các môn học khác: Đối với bậc tiểu học nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 5 nói riêng, sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học là hết sức cần thiết có như thế việc luyện chữ viết mới được củng cố và duy trì liên tục thường xuyên. Trong giảng dạy tôi luôn tận dụng viết các bài học, bài làm ở môn khác để học sinh có cơ hội được luyện viết. Giờ lên lớp hàng ngày tôi chú ý rèn chữ cho học sinh ở tất cả các môn học. Thường xuyên nhắc nhở các em cầm đúng bút, tư thế ngồi, cách để vở sao cho đẹp, không quăn mép. Bằng cử chỉ nhẹ nhàng, âu yếm và chân thành của mình, tôi đã giúp mỗi học sinh khắc sâu trong trí nhớ của mình và luôn tự nhủ: Ta phải viết đúng, đẹp ở tất cả các môn học. Khi chấm bài tôi thường không quên ghi nhận xét chữ viết của các em. Để việc dạy dỗ rèn luyện cho học sinh lớp mình có hiệu quả, đồng bộ tôi cùng giáo viên bộ môn hoặc giáo viên kiêm nhiệm thường xuyên trao đổi với nhau
  6. trực tiếp để có những thông tin 2 chiều về tình hình học tập cũng như chữ viết của học sinh. Tôi cùng giáo viên tổ đưa ra những biện pháp kế hoạch tốt nhất cho học sinh học tập có hiệu quả. Ví dụ : Khi có tiết Anh văn hoặc các bộ môn khác, em nào viết nguệch ngoạc, cẩu thả chưa đúng mẫu, thì giáo viên thông tin lại và tôi có biện pháp nhắc nhở, điều chỉnh để các em có hướng khắc phục. Nhờ vậy chữ viết của lớp tôi có tiến bộ rất nhiều. d. Biện pháp 4: Dùng một số quy tắc chính tả, luật chính tả: Bên cạnh các giải pháp trên, chúng ta có thể áp dụng giải pháp giúp học sinh viết đúng chính tả bằng cách cho học sinh học thuộc lòng các quy tắc chính tả hoặc mẹo luật chính tả. Ví dụ : Các mẹo luật chính tả: * Mẹo âm s: Khi gặp một từ không biết viết s hay x, ta viết s nếu từ ấy là tên con vật, hoặc từ chỉ tên một loài cây. Ví dụ: Cây: sả, sứ, sung, sến, sao, si, sim, sồi, sắn, sậy, sầu riêng, .... Con: sáo, sư tử, sẻ, sếu, sói, sóc, sò, sứa, sên, sâu, san hô,... * Mẹo luật “ Mình nên nhớ viết liền dấu ngã”: Gặp một từ Hán Việt, không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã, ta viết dấu ngã nếu từ ấy có một trong hai tiếng có các phụ âm đầu là: m, n, nh, v, l, d, ng/ ngh. M: mãn khóa, mẫu số, N: truy nã, nỗ lực, nữ nhi, Nh: nhã nhặn, nhẫn nại, nhãn hiệu, V: vũ lực, viễn vông, vãn cảnh, L: lãnh đạo, lãng mạn, lão thành, D: dĩ nhiên, dã man,diễn đạt, .. Ng/Ngh: bản ngã, ngôn ngữ, nghĩa nhân, Những từ Hán Việt, ngoài phạm vi mẹo luật trên, ta viết dấu hỏi trừ một số trường hợp ngoại lệ sau đây: hoài bão, linh cữu, chiêu đãi, quang đãng, kiêu hãnh, hoãn binh, mâu thuẫn, thực tiễn, thủ quỹ, xã hội, thanh tĩnh. e. Biện pháp 5: Phối hợp phụ huynh học sinh: Ở lớp, thời gian học tập có hạn nên ngoài các biện pháp thực hiện ở lớp, giáo viên phối hợp với phụ huynh kèm cập thêm cho các em học ở nhà. Sau khi khảo sát đầu năm, giáo viên mời phụ huynh của các em học sinh yếu đến để trao đổi, hướng dẫn phụ huynh cách kèm cặp con em như: nhắc nhở và rèn cho các em luyện đọc nhiều lần các bài văn, bài thơ, đặc biệt là bài viết chính tả nghe đọc, chú ý những tiếng, từ khó viết để nhớ mặt chữ; cũng có thể đọc cho các em viết thử rồi soát lỗi và sửa lỗi cho các em Nếu làm được như vậy, chúng ta không chỉ rèn đọc cho các em mà chúng ta còn giúp các em rèn viết đúng chính tả. Đặc biệt là em Nguyễn Đình Hoàng- tôi đã trực tiếp về tận nhà trao đổi với ông bà, nhờ HS giúp thêm những lúc rãnh. g. Biện pháp 6: Kiểm tra, khen thưởng: Mỗi khi học sinh viết đúng hơn, ít sai lỗi chính tả hơn (có tiến bộ) thì tôi cũng khen. Hình thức cũng là lời tuyên dương hoặc một tràng pháo tay nhưng các sẽ rất vui và có nhiều cố gắng hơn.
  7. Ví dụ: Bài trước các em viết sai 14 lỗi, bài hôm nay các em viết sai 10 lỗi. Mặc dù các em viết sai 10 lỗi là sai quá nhiều so với yêu cầu ( không quá 5 lỗi) nhưng so với bài trước thì các em có tiến bộ; vì vậy, các em đáng được khen để các em vui và cố gắng hơn nữa và dần dần tiến tới yêu cầu đạt chuẩn Kiến thức- Kỹ năng. - Cho cả lớp xem bài viết đẹp. Kịp thời động viên, khích lệ những học sinh có chữ viết tiến bộ. Tuyên dương những học sinh có bài viết đẹp. - Chia lớp thành 4 nhóm nhỏ, cho học sinh thi đua giữa các nhóm, nhóm nào có nhiều bài viết đẹp, nhóm đó nhận được cờ thi đua. 4. Kết quả đạt được: Với những giải pháp nêu trên, ngay từ đầu năm học, tôi đã vận dụng để rèn viết đúng chính tả cho học sinh của lớp mình đang dạy và đến nay đã đạt được kết quả tương đối khả quan, cụ thể như sau: - Số em viết tốc độ đạt yêu cầu; chữ viết rõ ràng, viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ, trình bày đúng quy định,viết sạch, đẹp gồm: Hoàng Linh, Minh Anh, Thuỷ Tiên, Hải Yến, Yến Nhi; Lành - Số em viết tốc độ đạt yêu cầu; chữ viết rõ ràng, viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ, trình bày đúng quy định,viết sạch, song chưa đẹp và có sai một vài lỗi gồm: Anh Quân, Vân, Bản, Ý Như, Quang, Uyên, Nguyên. - Số em viết có tiến bộ song vẫn còn sai nhiều lỗi, chữ nguệch ngoạc: Như Ý, Đan Nhi, Khang, Đình Quân * Đặc biệt, có những học sinh viết chậm, sai lỗi từ đầu năm như: Nguyên thường sai lổi: p/q; ch/ tr; em Như Ý: sai vần ang/ anh; ân/ anh; Uyên, Đan Nhi, Yến Nhi, Long , nhầm lẫn giữa s/x; em Hoàng đầu năm vào rất chậm nhưng hiện nay tốc độ đọc cũng như viết chuyển biến rất tốt. đã biết lắng nghe, tham gia xây dựng bài, viết rõ ràng, nhanh hơn rất nhiều. Từ đó, các em rất thích học, thích đọc, viết hơn dẫn đến việc học các môn khác cũng được tiến bộ. Kết quả cuối năm như sau: Kết quả kiểm tra viết Số lần kiểm tra TSHS A B C D 19/ 11 nữ Khảo sát đầu năm 09 06 03 01 Kiểm tra cuối năm 13 06 0 III. KẾT LUẬN: 1.Ưu điểm: + Kết quả chữ viết cũng như học tập của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. + Học sinh năng động, tự chủ, mạnh dạn, tự tin hơn, nền nếp kỷ cương được tăng cường. + Các em ngày càng chăm ngoan, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động. + Tình cảm cô- trò gần gũi, gắn bó và thân thiện hơn. + Phụ huynh: tin tưởng, yên tâm và cảm thấy phấn khởi khi thấy con em mình được giáo viên quan tâm, các em có nhiều tiến bộ, các em ngày càng hoàn thiện và thành những đứa trẻ ngoan, học tốt.
  8. 2. Nhược điểm: Việc phối hợp với giáo viên bộ môn,giáo viên kiêm nhiệm, với phụ huynh để rèn chữ học sinh đã có nhiều thay đổi trong việc học cũng như trong giao tiếp. Song ý thức của một số học sinh vẫn thiếu cố gắng nên chữ viết một số em còn sai lỗi nhiều. 3. Bài học kinh nghiêm: Qua việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp giúp học sinh rèn kỹ năng viết đúng chính tả, tôi tự rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây: - Trước hết, giáo viên phải khảo sát, thống kê lỗi và nguyên nhân dẫn đến các lỗi viết sai nhiều lỗi chính tả của học sinh. - Tùy từng nguyên nhân, từng đối tượng học sinh mà giáo viên có sự lựa chọn giải pháp phù hợp để việc rèn cho học sinh viết đúng chính tả đạt kết quả cao nhất. Điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải có sự đầu tư thật kỹ cho từng bài dạy, từng phân môn. - Bản thân người giáo viên phải có tâm huyết với nghề. Từ đó, mỗi giáo viên phải không ngừng nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề. Đặc biệt là tự học, tự trau dồi về kiến thức, phương pháp dạy- học thích hợp, nghiên cứu các tài liệu, sách báo có liên quan đến đặc thù của phân môn Chính tả. - Giáo viên phải thật sự đóng vai trò then chốt trong công tác dạy-học. Phải áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với phân môn. Kiểm tra nghiêm túc và chặt chẽ đối với việc viết sai nhiều lỗi chính tả của học sinh. Đặc biệt là giáo viên phải phát âm thật chuẩn, viết thật chuẩn để làm mẫu cho học sinh. Bởi vì các em hay bắt chước có nghe đúng thì mới có thể viết đúng. Tóm lại: Muốn giúp học sinh viết đúng chính tả, yếu tố trước tiên là người giáo viên phải dạy bằng cái tâm, bằng trí tuệ của người thầy. Từ đó, giáo viên phải không ngừng học tập trau dồi nghiệp vụ, thường xuyên nghiên cứu để tìm ra những biện pháp, kinh nghiệm dạy-học một cách hợp lý nhất. Có như vậy, mới nâng cao được chất lượng dạy và học nói chung; trong đó có chất lượng viết. Từ đó, góp phần giữ gìn và làm giàu sự trong sáng của tiếng Việt; đồng thời cũng góp phần thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 4. Kiến nghị, đề xuất: Để giúp các em học sinh nỗ lực phấn đấu và phong trào “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” được phát triển rộng rãi ở tất cả các trường, tôi xin đề nghị: * Đối với lãnh đạo: - Nhà trường cần liên hệ, tạo điều kiện cho giáo viên được dự trực tiếp hoặc tham quan, học tập các trường bạn có chất lượng đọc, viết đạt kết quả tốt. Bởi vì, sau khi được trực tiếp quan sát tiết dạy mẫu, phương pháp, kĩ năng rèn đọc, viết từ những đồng nghiệp có kinh nghiệm, giáo viên còn được trực tiếp nghe những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và đặc biệt là ý kiến chỉ đạo của các cấp lãnh đạo. Ví dụ như : hình thức tổ chức hoạt động này hay giáo viên cần phát huy, hình thức tổ chức hoạt động kia chưa đúng cần phải tránh . Có như vậy, có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy-học,nói chung, chất lượng chữ viết nói riêng.
  9. + Hãy phổ biến rộng rãi các Sáng kiến kinh nghiệm, Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đạt chất lượng cao, các đề tài có tính khả thi, để cho giáo viên áp dụng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong ngành. + Thường xuyên tổ chức các cuộc thi viết chữ đúng và đẹp ở tất cả các khối lớp( có tuyên dương khen thưởng cá nhân cũng như tập thể). + Chọn những bộ vở đẹp để trưng bày cho Hs tham quan, học tập. * Đối với giáo viên: - Giáo viên chủ nhiệm lớp( hoặc dạy kiêm nhiệm) cần phải có trách nhiệm cao trong việc rèn đọc, viết cho học sinh nói riêng và cho giáo dục nói chung; phải có kiến thức, kĩ năng sư phạm vững vàng, phải tạo được mỗi quan hệ tốt giữa thầy và trò, với phụ huynh học sinh. - Cần chăm chút nắn nót chữ viết đặc biệt là ở bảng lớp. Bởi đó chính là tấm gương phản chiếu để các em noi theo. . * Đối với phụ huynh: Các bậc phụ huynh cần quan tâm hơn nữa đối với con em mình, đối với sự nghiệp giáo dục. Phải thực sự là tấm gương mẫu mực cho con em mình noi theo, cần phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên với cô giáo chủ nhiệm lớp. Có như vậy chất lượng giáo dục mới ngày càng đi lên. Các em học sinh ngày càng chăm ngoan, học giỏi và sau này trở thành người có ích cho xã hội. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ bé của bản thân tôi trong công tác “rèn chữ viết” cho học sinh song không khỏi có những hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của chuyên môn nhà trường, của hội đồng khoa học để sáng kiến của tôi được áp dụng trong thực tế phù hợp hơn! Ý kiến Tổ chuyên môn ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ............................................................ Xếp loại:.............. Ý kiến của Lãnh đạo Nhà trường ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ............................................... Xếp loại:.............
  10. PHỤ LỤC PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM: V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Nghiên cứu lý luận: 2. Nghiên cứu thực tế: VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU(thời gian nghiên cứu, thời gian bắt đầu và kết thúc): PHẦN II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận: II. Cơ sở thực tiễn: 1. Thực trạng chữ viết của giáo viên và học sinh: 2. Nguyên nhân: a. Về phía HS: b. Về phía giáo viên: 3. Cách tiến hành: a. Biện pháp 1: Chuẩn bị chu đáo và dạy tốt các giờ chính tả trong chương trình: b. Biện pháp 2: Chú trọng việc chấm bài và sửa lỗi chính tả: c. Biện pháp 3- Luyện tập chữ viết khi học các môn học khác: d. Biện pháp 4: Dùng một số quy tắc chính tả, luật chính tả: e. Biện pháp 5: Phối hợp phụ huynh học sinh: g. Biện pháp 6: Kiểm tra, khen thưởng: 4. Kết quả đạt được: III. KẾT LUẬN: 1.Ưu điểm: 2. Nhược điểm: 3. Bài học kinh nghiêm: 4. Kiến nghị, đề xuất: TÀI LIỆU THAM KHẢO +Sử dụng tài liệu giáo dục tiểu học - PGS-TS: Đặng Vũ Hoạt +Phương pháp dạy học Tiếng Việt - PGS-TS: Nguyễn Quang Minh + Một số luật chính tả Tiểu học: - Tác giả: Lê Thị Thu Huyền Cam Thanh, ngày 12/5/2018 Người viết Lê Thị Kim Nguyên