SKKN Rèn tinh thần tự học và sử dụng phương pháp dạy học nhóm để phát huy tích cực của học sinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn tinh thần tự học và sử dụng phương pháp dạy học nhóm để phát huy tích cực của học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_ren_tinh_than_tu_hoc_va_su_dung_phuong_phap_day_hoc_nho.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Rèn tinh thần tự học và sử dụng phương pháp dạy học nhóm để phát huy tích cực của học sinh
- 1 Phần 1. MỞ ĐẦU 1. Mục đích của sáng kiến Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông là một công việc có vị trí rất quan trọng. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau mỗi học sinh mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức, về đời sống xã hội. Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống và công việc. Xuất phát từ cuộc vận động ứng dụng đẩy mạnh công nghệ thông tin vào dạy học của Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Môn Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng tin học được áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu hết lĩnh vực của đời sống và là một phần không thể thiếu của trình độ văn hóa phổ thông trong con người ở thời đại mới. Bởi vậy dạy tin học cho học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh những nhận thức, những hiểu biết ngang tầm thời đại... Sự thành công của một tiết dạy ngoài phương pháp giảng dạy của GV còn có sự tự chủ, năng động, sáng tạo của HS trong tiết học. Học sinh có thể vận dụng được kiến thức lý thuyết đã học trên lớp vào thực tiễn cuộc sống của các em. Chính vì vậy mà bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi với đồng nghiệp về các phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và ứng dụng đó bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp hữu ích góp phần trong việc nâng cao chất lượng bộ môn Tin học lớp 7. Để nâng cao chất lượng môn tin học tôi đã đăng kí nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm “Rèn tinh thần tự học và sử dụng phương pháp dạy học
- 2 nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh”. Bản thân tôi đã nghiên cứu và áp dụng thành công tại đơn vị trường THCS Phong Khê mà tôi đang công tác. Mục đích của sáng kiến nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học môn Tin học ở trường PT. Với sáng kiến này Tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học tin học đạt hiệu quả hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của bài học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học tin học trong nhà trường. 2. Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến Sáng kiến với các biện pháp được trình bày có một số điểm khác, mới so với các biện pháp cũ trước đây là: Khi sử dụng phương pháp dạy học nhóm kết hợp với hình thức dạy học tích cực, có thi đua khen thưởng trong tiết học thì không khí học tập trở lên sôi nổi, học sinh học tập hứng thú, có sự thi đua giữa cá nhân với cá nhân trong nhóm, giữa nhóm này và nhóm khác trong lớp. Học sinh được học tập, trao đổi, thảo luận trong một môi trường học tập thoải mái, không có áp lực từ phía giáo viên nhưng vẫn giữ được nề nếp, kỷ luật chung của lớp học. Sáng kiến được áp dụng thực hiễn tại đơn vị vào năm học 2020 – 2021 đối với học sinh 4 lớp 6 của trường THCS Phong Khê. Ưu điểm nổi bật của sáng kiến: Giúp học sinh rèn luyện được tinh thần tự học và biết cách học tập, làm việc theo nhóm để việc học tập trở nên dễ dàng hơn, có hiệu quả, có tổ chức, có kỷ luật hơn. Lượng kiến thức tiếp nhận trong một tiết học được nhiều hơn vì các em đã chú ý nghe giảng, ít nói chuyện riêng để có thể trả lời được các câu hỏi mà giáo viên đưa ra. Khi trả lời đúng các câu hỏi các em sẽ nhận được điểm cộng, được khen ngợi trước lớp kịp thời, điều đó tạo cảm giác học tập vui vẻ, thích thú cho các em. 3. Đóng góp của sáng kiến để nâng cao chất lượng quản lý, dạy và học của ngành giáo dục nói chung, của đơn vị nói riêng, cụ thể ở những mặt sau: Sau khi áp dụng sáng kiến vào giảng dạy môn tin học 6 và 7 năm học 2020 – 2021 và năm học 2021 – 2022, tôi nhận thấy chất lượng học tập môn tin học của học sinh trường THCS Phong Khê đã tốt hơn rất nhiều. Các em đã có sự chuẩn bị
- 3 trước bài học trước khi đến lớp. Trong giờ học các em đã học tập nghiêm túc hơn, có sự thi đua học tập và tinh thần học tập hăng say hơn rất nhiều so với các năm học chưa được áp dụng sáng kiến. Các em hoàn toàn thay đổi về nhận thức là học môn tin học không còn môn phụ nữa mà môn tin học là môn học rất quan trọng nhất là trong thời đại công nghệ đang phát triển rất nhanh chóng này. Phần 2. NỘI DUNG Chương 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN TIN HỌC Ở TRƯỜNG THCS PHONG KHÊ. 1. Ưu điểm Thứ nhất, về phía nhân sự: Năm học 2021 – 2022 là một năm học có nhiều khó khăn về tình hình dịch bệnh nhưng được sự quan tâm của cấp trên, trường THCS Phong Khê đã có thêm giáo viên chuyên môn tin học về dạy nên học sinh khối 6, 7, 8 được tiếp cận với bộ môn đầy đủ. GV được đào tạo chuẩn chuyên ngành về tin học để đáp ứng yêu cầu cho dạy và học môn tin học trong bậc THCS. Nhận thức được tầm quan trọng của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh. Giáo viên đã nhận thức đúng đắn về yêu cầu của đổi mới như: Cần sử dụng phương pháp dạy học, phương tiện kĩ thuật hiện đại một cách hiệu quả; tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập của học sinh và kết hợp đổi mới kiểm tra đánh giá. Do vậy, họ biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học cũng như kiểm tra đánh giá. Thứ hai, về hình thức tổ chức dạy học: Phía nhà trường cũng tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, hội giảng, thi giáo dạy giỏi, viết sáng kiến kinh nghiệm Đặc biệt là hội thi học trẻ không chuyên tỉnh Bắc Ninh được tổ chức hàng năm cho học sinh các cấp và nhà trường đã tổ chức lựa chọn học sinh lớp 8 có phẩm chất, năng lực tốt tham gia ôn luyện và dự thi để học sinh được trao dồi kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết đối với môn tin học nói chung, môn tin học 8 nói riêng. Những hoạt động chuyên môn đó đã góp phần tác động tích cực đến hoạt động dạy học trong môn học. Thứ ba, tình hình cơ sở vật chất: Nhà trường xây dựng phòng tin học, có đầy đủ trang thiết bị để phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
- 4 Nhà trường đã lắp đặt hệ thống máy tính, máy chiếu, bảng thông minh cho phòng thực hành phục vụ quá trình dạy học. Thứ tư, đa số học sinh chăm ngoan, lễ phép, vâng lời thầy cô. Vì là môn học trực quan, sinh động, môn học khám phá những lĩnh vực mới nên học sinh rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành. Một số em HS ở nhà đã có máy vi tính nên cũng có những thuận lợi nhất định đối với môn học. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng còn không ít những khó khăn mà chúng tôi gặp phải qua quá trình giảng dạy. * Nhà trường: Nhà trường được trang bị một phòng máy vi tính với hơn 30 máy nhưng thực tế chỉ sử dụng được 20 máy vì phòng máy chưa đủ điều kiện về đường điện để lắp đặt. Hơn nữa chất lượng và cấu hình máy vẫn chưa đảm bảo phục vụ cho 100% các tiết dạy. Cấu hình máy tính thấp, tốc độ máy còn chậm nên khi dạy các phần mềm còn khó khăn cho giáo viên trong quá trình cài đặt và chia sẻ dữ liệu. Mỗi giáo viên khi dạy tiết thực hành đều cảm thấy áp lực vì với số máy tính còn hạn chế trong khi đó sĩ số các lớp gấp 2 lần số máy hiện. HS phải ngồi chung 2 đến 3 em/máy nên nhiều em không có nhiều thời gian để thực hành bài tập của mình. Do đó ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của bộ môn. * Giáo viên: Môn Tin học mới chỉ là môn tự chọn trong chương trình bậc THCS nên chương trình và sự phân phối chương trình bước đầu chưa có sự thống nhất và đang hoàn chỉnh. Hơn nữa khi thực hành, các máy móc chất lượng kém thường gặp sự cố, trục trặc dẫn đến học sinh thiếu máy. Giáo viên dạy tiết thực hành vừa dạy vừa giải quyết sự cố của máy tính nên thời gian kiểm tra kết quả thực hành còn ít. * Học sinh:
- 5 Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu, do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế dẫn đến việc học tập của học sinh vẫn còn mang tính hình thức. Để giờ học Tin học hấp dẫn, tạo hứng thú cho học sinh thì cả thầy và trò đều phải nỗ lực, hợp tác với nhau một cách hiệu quả. Giáo viên phải có sự chuẩn bị bài, nghiên cứu kĩ nội dung khi lên lớp, chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy, nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất tốt nhất để giáo viên và học sinh không còn thấy khó khăn trong các tiết thực hành. Những năm gần đây, ngành sư phạm không còn đủ hấp dẫn để tạo sức hút đối với những học sinh giỏi, học sinh xuất sắc ở các trường trung học phổ thông thi vào, dẫn đến chất lượng đầu vào của các trường sư phạm ngày một thấp, đặc biệt ngành tin học. Đa số sinh viên khi tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng chuyên ngành “Sư phạm tin học” hoặc chuyên ngành “Công nghệ thông tin” sau khi ra trường đều đi làm trái ngành, trái nghề vì ngành tin học là một ngành năng động, luôn luôn phát triển để theo kịp thời đại. Không những vậy, cơ hội tìm việc làm cho những cử nhân Công nghệ thông tin là rất nhiều mà ngành sư phạm thì việc thi vào công chức thì rất khó khăn, mức lương khởi điểm thì thấp hơn sơ với các ngành khác. Vì vậy tại các cơ sở giáo dục đang có dấu hiệu thiếu hụt lực lượng giáo viên tin học trẻ có trình độ chuyên môn giỏi và tâm huyết với nghề. Về tâm lý, một số giáo viên, quản lý và đa số học sinh, phụ huynh học sinh còn quan niệm môn Tin học không phải là môn học chính mà chỉ chú trọng vào các môn môn Toán, Văn, Anh. Chính vì vậy nên không đầu tư vào chất lương dạy và học cho môn tin học. Dẫn đến tình trạng không yêu thích môn dạy, môn học. Học sinh học chỉ mang tính đối phó, học vẹt để trả bài. Giáo viên không còn say mê với nghề như trước đây. Tại môi trường nơi tôi công tác, phần lớn học sinh trong trường là con em các gia đình làm nghề giấy. Cả phụ huynh và học sinh mang nặng tâm lý không xem trọng việc học, nhất là học tin học. Vì vậy khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng thực hành trên máy tính, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm. Tinh thần
- 6 hợp tác học chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em còn học thụ động. Từ thực trạng trên, tôi xin đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học 7 tại trường THCS Phong Khê. Chương 2: NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TIN HỌC 7 TẠI TRƯỜNG THCS PHONG KHÊ. Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tin học nói chung, môn Tin học lớp 7 nói riêng, tôi đã tiến hành một số biện pháp nhằm thay đổi cách dạy, cách học môn tin học cả về lý thuyết và thực hành, hình thành cho học sinh một số kĩ năng khi học Tin học. Đồng thời giúp giáo viên giảng dạy môn tin học phát huy một cách hiệu quả, chất lượng giờ dạy hơn. Tôi xin đưa ra 3 biện pháp cơ bản sau: a. Biện pháp 1: Thay đổi nhận thức về môn Tin học. Tôi luôn xác định rằng muốn các em học tốt môn Tin học thì giáo viên phải là người yêu thích bộ môn Tin học, phải luôn tìm tòi, khám phá ra các phần mềm hỗ trợ việc học tập, tìm các công cụ học tập hiệu quả nhất cho bộ môn. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện liên tục, thường xuyên suốt đời. Bởi vậy tôi thường xuyên lên mạng Internet tra cứu, tìm những mẹo hay, những phím tắt, những phần mềm hỗ trợ về tin học phục vụ cho công tác dạy và học. Giáo viên có yêu thích môn Tin học thì mới có thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì học sinh ở cấp THCS các em xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến, các em bắt chước, làm theo như giáo viên. Mặc dù, phương pháp dạy học hiện nay là lấy học sinh làm trung tâm, học sinh chủ động học tập tuy nhiên giáo viên vẫn đóng vai trò quan trọng. Lời giảng của giáo viên rõ ràng, truyền cảm sẽ gây được sự chú ý của học sinh. Bản thân Tôi luôn nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, có hệ thống để từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp. Để nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học. Về phía giáo viên:
- 7 Giáo viên phải có sự hiểu biết về các lĩnh vực liên quan đến bộ môn tin học để truyền tải, ứng dụng một cách linh hoạt, sinh động, nhưng phải đảm bảo nội dung truyền tải phải có tính chính xác, tính thời sự, tính giáo dục để tạo niềm tin và gây hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó sẽ phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Chính vì vậy tôi không ngừng nghiên cứu, sưu tầm tài liệu để phục vụ cho việc giảng dạy, khi dạy phải có dẫn chứng minh họa cụ thể thì mới thuyết phục được học sinh. Qua những bài học Tin học, tôi luôn tìm cách khơi dậy tinh thần tự học, tự sáng tạo cho mỗi học sinh. Biết chia sẻ thông tin, dữ liệu cho bạn bè để từ đó giáo dục cho các em tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Trong quá trình giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài học qua từng hoạt động học tập. Phân chia thời gian hợp lý. Có hình thức khen thưởng, khuyến khích học sinh tích cực phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài, tránh tối đa hình thức xử phạt, la mắng. Về phía học sinh: Phải thay đổi nhận thức về môn Tin học vì môn học này giúp học sinh hoà nhập được với xã hội hiện đại, sử dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tuân thủ pháp luật. CNTT và TT nhằm giúp học sinh chúng ta nói chung sử dụng và áp dụng hệ thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo. Học sinh phải có sự chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Tích cực sưu tầm tài liệu có liên quan đến nội dung bài học để việc học tập được tốt hơn. Khi vào lớp chú ý nghe giảng, nghe theo sự hướng dẫn của giáo viên, biết hợp tác với các bạn trong nhóm, trong lớp để tập trung và hoàn thành tốt nội dung bài học. b. Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp dạy học nhóm cho môn tin học 7. Mục đích chính của dạy học nhóm là thông qua cộng tác làm việc trong một nhiệm vụ học tập nhằm phát triển tính tự lực, sáng tạo cũng như năng lực xã hội, đặc biệt là khả năng cộng tác làm việc, thái độ đoàn kết của học sinh.
- 8 Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt, đặc biệt với môn Tin học, sẽ thực hiện được những chức năng và công dụng khác với dạy học toàn lớp, do đó có tác dụng bổ sung cho dạy học toàn lớp. Phương pháp dạy học nhóm cho môn tin học 7 được thể hiện cụ thể như sau: * Hình thức chia nhóm: Ví dụ: Lớp 7A Có 42 học sinh được chia thành 10 nhóm (mỗi nhóm có từ 4 – 5 học sinh). Trong nhóm có: 1 nhóm trưởng, 1 nhóm phó. Nhóm trưởng: Có trách nhiệm quản lý thành viên của tổ. Ghi thông tin các thành viên trong nhóm vào sổ ghi chép. Theo dõi điểm cộng hoặc trừ hàng ngày cho các thành viên trong nhóm khi các thành viên được cô giáo cộng hoặc trừ điểm. Nhóm phó: Thực hiện nhiệm vụ theo dõi các thành viên khác trong nhóm như nhóm trưởng khi nhóm trưởng không có mặt ở lớp. * Nội quy hoạt động nhóm: Trước mỗi tiết học các thành viên kiểm tra bài cũ của nhau theo hình thức vòng tròn. Thành viên nào học đầy đủ sẽ được +1 điểm. Không học bài và làm bài ở nhà sẽ bị trừ 0.5 đến 1 điểm tùy vào mức độ học nhiều hay ít. Trước mỗi tiết học giáo viên đưa ra các câu hỏi liên quan đến bài học, hướng dẫn, gợi mở cho học sinh suy nghĩ trả lời, kịp thời khuyến khích bằng điểm số. Sau mỗi tiết học các nhóm kiểm tra vở ghi bài mới cũng theo hình thức vòng tròn, cộng và trừ điểm theo quy đinh. Kết thúc tiết học các nhóm trưởng báo cáo điểm số đạt được trong tiết học đó cho lớp trưởng tổng hợp báo cáo giáo viên để có độ khen thưởng hợp lí. * Khen thưởng: - Giáo viên đưa ra mức thưởng cho học sinh toàn lớp, đảm bảo sự công bằng, minh bạch cho các em, theo mức điểm số đạt được và lưu ý chỉ thưởng cho bạn nào chạy về đích nhanh nhất cụ thể như sau:
- 9 + Mức 1: 10 điểm cộng + Mức 2: 20 điểm cộng + Mức 3: 30 điểm cộng Cứ theo mức độ tăng dần như vậy học sinh sẽ liên tục cố gắng phấn đấu để vượt lên chính mình và bạn mình. Để khuyến khích thành tích đạt được của các em giáo viên tổ chức bốc thăm phần quà dành cho các bạn (vào cuối tiết học hoặc thời gian nào đó mà giáo viên thấy phù hợp) nhưng phải trao quà đó trước toàn lớp. Lựa chọn quà phù hợp như đồ dùng học tập, khăn quàng, vở ghi Phần quà tuy nhỏ nhưng có hình thức mới lạ một chút thì học sinh sẽ cảm thấy thích thú và hãnh diện trước các bạn. * Những hình thức nhắc nhở tích cực: Khi học sinh phạm lỗi ta có thể sử dụng các hình thức xử phạt tích cực: Dừng học tập để học sinh tự kiểm điểm bản thân: Những học sinh hay mắc sai phạm thường không có thời gian yên tĩnh để suy nghĩ về việc mình làm. Chẳng hạn lớp có học sinh đánh nhau với bạn, nói chuyện riêng phải nhắc nhở nhiều lần . Giáo viên có thể cho em tạm dừng việc học, ngồi yên lặng một mình để giảm căng thẳng và viết ra giấy lỗi mà em đang mắc phải là gì? em sẽ làm gì sau khi sau nhận ra lỗi của mình? Nếu học sinh đó sau khi viết ra giấy không vi phạm nữa giáo viên giữ lại giấy đó và xóa lỗi cho em và lưu ý nếu còn vi phạm sẽ gửi tờ giấy đó cho GVCN để kiểm điểm. Từ đó, ta sẽ biết hướng để giúp các em tự điều chỉnh lại hành vi của bàn thân. Tước bỏ đặc quyền: Khi học sinh ngoan sẽ được tham gia những hoạt động mà các em yêu thích. Khi các em mắc lỗi những đặc quyền đó sẽ bị hủy bỏ cho đến khi em tiến bộ hơn. Các em nghịch phá, năng động rất sợ hình thức xử phạt này. Bởi lẽ với các em không gì khổ sở hơn việc phải ngồi im nhìn các bạn mình chơi đùa. Vì thế các em sẽ cố gắng để không phạm lỗi nữa. Phiếu báo cáo sai phạm: Đối với học sinh cá biệt, phụ huynh ít quan tâm, chúng ta sẽ làm phiếu báo cáo hàng ngày hoặc hàng tuần. Nội dung của báo cáo
- 10 là những sai phạm mà học sinh vướng phải và việc cần nhờ sự hỗ trợ của gia đình. Phụ huynh sẽ xem và kí tên vào phiếu rồi gửi lại cho giáo viên. Biện pháp này hiệu quả với các học sinh hay mắc lỗi như không học bài, không làm bài tập về nhà, quên mang dụng cụ học tập. Nếu trong vài ngày liên tiếp học sinh không mắc lỗi nữa thì sẽ ngừng việc gửi báo cáo. Để biện pháp này có hiệu quả hơn nữa là khi học sinh tiến bộ rõ rệt giáo viên có thể gửi một vài câu khen ngợi về nhà. Làm như vậy cả phụ huynh và học sinh đều cảm thấy rất vui và sự hợp tác của gia đình học sinh sẽ ngày một tăng lên. Từ thực tiễn Tôi nhận thấy phương pháp dạy học nhóm có một số hiệu quả cơ bản sau: Thứ nhất: Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của học sinh Trong dạy học nhóm học sinh phải tự giải quyết nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên, trách nhiệm với nhiệm vụ được giao và kết quả làm việc của mình. Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm và hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh. - Ví dụ: ở Bài 1: Chương trình bảng tính là gì? giáo viên giao bài tập sau: Sử dụng công cụ tìm kiếm Google, tìm các thông tin liên quan đến bảng tính excel. Giáo viên cho các em làm việc theo 3 nhóm với yêu cầu: + Nhóm 1: Tìm những thông tin được trình bày dưới dạng bảng tính trong gia đình. + Nhóm 2: Tìm những thông tin được trình bày dưới dạng bảng tính trong nhà trường. + Nhóm 3: Tìm những thông tin được trình bày dưới dạng bảng tính trong ở nơi công cộng. Với yêu cầu trên, giáo viên sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của từng học sinh. Các nhóm các em phải tự giải quyết nhiệm vụ mà giáo viên giao, để làm tốt được yêu cầu của giáo viên đòi hỏi sự tham gia tích cực, trách nhiệm làm việc của từng thành viên trong nhóm.
- 11 Với nhóm 1, tìm những thông tin được trình bày dưới dạng bảng tính trong gia đình, thì nhóm trưởng cần phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên sẽ chịu trách nhiệm tìm thông tin về những bảng tính được bố mẹ, anh, chị em thường dùng. Ví dụ: Bạn A tìm thông tin về hóa đơn tiền điện hàng tháng của gia đình, bạn B tìm thông tin hóa đơn tiền nước hàng tháng của gia đình, bạn C tìm thông tin về thực đơn hàng ngày của gia đình.... Với nhóm 2 và nhóm 3 cũng làm việc tương tư như vậy. Thứ hai: Phát triển năng lực cộng tác làm việc: Công việc nhóm là phương pháp làm việc được học sinh ưa thích. học sinh được luyện tập những kĩ năng cộng tác làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến những người khác và tính khoan dung. Cũng với ví dụ trên với Bài 1. Chương trình bảng tính là gì? Sau khi các thành viên trong nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ của mình thì lúc này đòi hỏi các em phải cộng tác để làm việc tiếp. Cả nhóm sẽ phải xây dựng tất cả các thư mục về thông tin mình tìm được để lấy dữ liệu đó cho vào bảng thông tin tổng hợp của nhóm. Thứ ba: Phát triển năng lực giao tiếp Thông qua cộng tác làm việc trong nhóm, giúp học phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm. Thứ tư: Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội Dạy học nhóm là quá trình hỗ trợ mang tính xã hội. Học sinh học tập trong mối tương tác lẫn nhau trong nhóm, có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các mối quan hệ xã hội và không cảm thấy phải chịu áp lực của giáo viên. Thứ năm: Tăng cường sự tự tin cho học sinh Vì học sinh được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc phải sai lầm. Thứ sáu: Phát triển năng lực làm việc có phương pháp Thông qua quá trình tự lực làm việc và làm việc nhóm giúp học sinh rèn luyện, phát triển phương pháp làm việc.
- 12 Thứ bảy: Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá Lựa chọn nhóm theo hứng thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên, những đòi hỏi như nhau hay khác nhau về mức độ khó khăn, cách học tập như nhau hay khác nhau, phân công công việc như nhau hoặc khác nhau. - Ví dụ: ở Bài 1: Chương trình bảng tính là gì. Phần câu hỏi và bài tập (Câu 1). Giáo viên có thể chia nhóm cho các em làm việc theo sở trường và hứng thú để thu được kết quả học tập tốt nhất. + Ở nhóm 1: Giáo viên sẽ tập hợp các em học sinh có sở thích tìm hiểu thông tin liên quan đến gia đình. + Ở nhóm 2: Giáo viên sẽ tập hợp những em có sở thích tìm hiểu thông tin liên quan đến nhà trường. + Ở nhóm 3: Giáo viên sẽ tập hợp những em có sở thích tìm hiểu thông tin liên quan đến xã hội. Với việc chia nhóm theo hứng thú như trên sẽ giúp các em có cùng hứng thú, sở thích cộng tác làm việc tốt hơn. Thứ tám: Nâng cao kết quả học tập: Từ kết quả nghiên cứu so sánh thành tích học tập của học sinh cho thấy: Những lớp học đạt kết quả dạy học đặc biệt tốt là những lớp có áp dụng và tổ chức tốt hình thức dạy học nhóm. Tóm lại khi dạy học theo nhóm, giáo viên có thể chia thành 3 giai đoạn cơ bản như sau:
- 13 1. Nhập đề và giao nhiệm vụ - Giới thiệu chủ đề - Xác định nhiệm vụ các nhóm - Thành lập các nhóm Làm việc toàn lớp 2. Làm việc nhóm - Chuẩn bị chỗ làm việc. - Lập kế hoạch làm việc. - Thỏa thuận quy tắc làm việc. - Tiến hành giải quyết nhiệm vụ. Làm việc toàn lớp 3. Trình bày kết quả/ đánh giá - Các nhóm trình bày kết quả - Đánh giá kết quả Thứ chín: Đánh giá kết quả Đánh giá là 1 khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục. Có thể nói, đổi mới kiểm tra đánh giá là một phần của đổi mới phương pháp dạy học. Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng hơn trong cả một quá trình giáo dục.
- 14 Đánh giá quá trình giáo dục là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn. Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu, nên việc kiểm tra đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích học sinh vận dụng những kiến thức kĩ năng đã học thực hành, những tình huống thực tế. Kiểm tra, đánh giá là một trong những khâu quan trọng có tác động giúp phát triển dạy và học tích cực. Để kiểm tra đánh giá công bằng khách quan kết quả học tập của học sinh, giáo viên cần chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiét học, kể cả tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành. Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn đầu tư nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn. Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hoá, đảm bảo 70% câu hỏi bài tập phản ánh được mức độ trình độ chuẩn- mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi học sinh THCS và 30 % còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn. Với bộ môn Tin học bên cạnh những giờ học lý thuyết thì những giờ dạy thực hành hết sức quan trọng trong việc rèn kĩ năng, thao tác trên máy cho học sinh. Tuy nhiên mục đích tiết thực hành là tiết học chứ không phải tiết kiểm tra đánh giá. Như vậy trong tiết thực hành giáo viên cần dành thời gian công sức để hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Trong một tiết thực hành, giáo viên không nhất thiết phải cho điểm đánh giá tất cả các học sinh. Có thể trong một tiết thực hành chỉ đánh giá một hoặc một số học sinh. Tuỳ tình hình thực tế của lớp học, có thể thông báo hoặc không thông báo trước khi nào và học sinh nào sẽ được tiến hành đánh giá cho điểm. Tuy nhiên với mục đích sử dụng kiểm tra đánh giá như một phương pháp dạy học thì khuyến khích việc thông báo trước cho học sinh và động viên học sinh tiếp tục phấn đấu để có điểm cao hơn. Có thể chấm nhiều điểm giờ thực hành và lấy trung bình cộng các điểm này làm
- 15 điểm tính học lực của học sinh. Không nhất thiết mọi học sinh phải có cùng số lần chấm điểm giờ thực hành. Một số KN cần kiểm tra bằng cách thực hành trên máy. Ví dụ kiểm tra về kĩ năng định dạng trang tính, kỹ năng sử dụng hàm trong chương trình bảng tính, kỹ năng tổng hợp kiến thức để hoàn thành một sản phẩm học tập, kỹ năng sử dụng phần mềm học tập Việc lựa chọn hình thức kiểm tra phù hợp là rất quan trọng, nếu lựa chọn hình thức kiểm tra không đúng có thể dẫn đến việc kiểm tra đánh giá không đạt mục đích, kết quả kiểm tra đánh giá không phản ánh đúng năng lực của học sinh. - Ví dụ 1: Để kiểm tra kiến thức của học sinh về các khái niệm liên quan đến chương trình bảng tính excel, giả sử bài kiểm tra sử dụng hình thức trắc nghiệm và được tiến hành trên máy tính. Như vậy, học sinh có thể mở phần mềm excel để lựa chọn đáp án mà không biết nguyên nhân tại sao lại lựa chọn đáp án đó. Trong trường hợp này, lựa chọn hình thức kiểm tra trắc nghiệm trên máy tính là không phù hợp dẫn đến bài kiểm tra không đánh giá được kiến thức của học sinh về mặt lý thuyết như mục tiêu đặt ra. - Ví dụ 2: Khi kiểm tra các thao tác chọn ô, hàng, cột, khối trong bảng tính excel, giáo viên cho học sinh viết ra giấy, khi đó học sinh có thể viết ra được nhưng đổi hình thức kiểm tra là trên máy tính các em thao tác nhanh và hiệu quả hơn. Vậy tùy vào các tình huống và nội dung kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra đánh giá, giáo viên cần linh hoạt đổi mới phương pháp cũng như các hình thức kiểm tra đánh giá để thu được những kết quả học tập chính xác và tốt nhất của học sinh, giúp các em tự tin hơn với kết quả học tập của mình. Điều đấy sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tin học trong nhà trường. c. Biện pháp 3: Theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh Theo dõi đánh giá học sinh trong quá trình học tập là một trong những khâu quan trọng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học nhằm tạo không khí học tập sôi nổi, khuyến khích tính tự lập, tự chủ, tích cực, sáng tạo cho học sinh. Ở đây, giáo viên được quan sát các hoạt động, cử chỉ, hành vi, tác phong của
- 16 các em trong quá trình học ở lớp học cũng như tự học ở nhà (nếu quan sát được). Căn cứ vào sản phẩm học tập và thái độ học tập, giáo viên đánh giá được sự tiến bộ của học sinh, đánh giá được khả năng vận dụng giải quyết tình huống vào thực tiễn. Để theo dõi đánh giá quá trình học tập của học sinh, Tôi đã lập ra sổ “Theo dõi đánh giá khả năng nhận thức, thái độ học tập” cho từng lớp, từng học kỳ, ở đó ghi rõ điểm cộng và điểm trừ cụ thể, có quy định rõ ràng mức điểm thưởng về khả năng phát triển cũng như các hạn chế của từng em trong quá trình học tập. Theo dõi đánh giá khả năng nhận thức, thái độ học tập thông qua hoạt động học: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập, tự học cá nhân, trao đổi thảo luận, tư duy sáng tạo học tập và trình bày sản phẩm học tập, các kỹ năng thao tác thực hành Có các tiêu chí đánh giá, phân tích hướng dẫn cho học sinh cách tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau thông qua tổ chức trò chơi học tập, đánh giá sản phẩm học tập cụ thể. Để các nhóm hoạt động có hiệu quả Tôi đã đưa ra hình thức học tập “Công nhận điểm tốt của học sinh ở mọi lúc mọi nơi” nhằm tạo điều kiện, cơ hội tốt nhất cho các em đạt được mức điểm số nhanh nhất. Thông qua các bài dạy, giáo viên nên nghiên cứu lồng ghép các cách kiểm tra kiến thức cũng như hành vi, thái độ học tập của các em. Giáo viên phát hiện những điểm tốt của các em để tuyên dương, khen ngợi trước lớp.
- 17 Chẳng hạn, trong tiết lý thuyết môn Tin học 6 sau khi kết thúc bài học Tôi cho học sinh tìm ra nội dung chính của bài hôm nay và viết ra giấy thật nhanh. Cả lớp viết ra giấy nhưng chỉ thu bài của 5 bạn nhanh nhất, chấm và cho điểm luôn để học sinh có thể nắm được luôn kiến thức bài học. Nếu đạt điểm 9 – 10 thì cộng cho bạn 1 điểm vào sổ đánh giá của nhóm. Nếu đạt điểm 7 – 8 thì cộng cho bạn 0.5 điểm vào sổ đánh giá của nhóm. Nếu đạt điểm 5-6 thì không cộng điểm Điểm dưới 5 thì không trừ điểm các em vì đây là bài học mới các em không thể tránh được sự sai sót. Trong bài thực hành cũng vậy, bạn nào hoàn thành bài tập nhanh, đúng theo yêu cầu của bài thì cũng cộng điểm 0.5 hoặc 1, 2 điểm tùy vào mức độ bài làm. Sau mỗi tiết học thực hành tôi cũng nhận xét và cộng điểm cho các nhóm hoạt động tích cực, biết chia sẻ, đoàn kết, trật tự, kỷ luật trong nhóm và trừ điểm các nhóm chưa hoạt động tích cực. Trong tiết kiểm tra đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ bạn nào làm bài nghiêm túc, trung thực cũng có điểm cộng và ngược lại. Sau khi có kết quả bài thi cũng động viên khen ngợi các em bằng điểm số. Chương 3: KIỂM CHỨNG CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TRIỂN KHAI CỦA SÁNG KIẾN. 1. Mô tả cách thực hiện Đối tượng phục vụ cho quy trình nghiên cứu xây dựng đề tài là toàn bộ học sinh 4 lớp 6 trường THCS Phong Khê, năm học 2020-2021. Tổng số: 160 học sinh. Trong đó: Lớp 6A: 40 học sinh. Lớp 6B: 40 học sinh. Lớp 6C: 40 học sinh. Lớp 6D: 40 học sinh Sau khi viết đề tài phần LT và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, tôi tiến hành áp dụng dạy thực nghiệm 3 tiết ở lớp 6B (Không phải lớp chọn) với số học sinh là 40.
- 18 Trước hết, tôi áp dụng dạy thực nghiệm ở lớp 6B tiết thứ nhất: Bài 4. Máy tính và phần mềm máy tính (Tiết 1) (SGK Tin học 6 trang 21-26). Dạy xong tiết thứ nhất, tôi tiến hành khảo sát, đánh giá mức độ nhận thức của học sinh ở cả 4 lớp (3 lớp thường: 6B, 6C, 6D; 1 lớp chọn: 6A), so sánh kết quả của lớp thực nghiệm 6B với 3 lớp đối chứng, rút kinh nghiệm đề tài, bổ sung phần lí thuyết. Sau khi đã rút kinh nghiệm ở tiết dạy thực nghiệm thứ nhất, tôi tiếp tục áp dụng dạy thực nghiệm ở lớp 6B tiết thứ hai: Bài 6. Học gõ mười ngón (tiết 1) (SGK Tin học 6 trang 35 - 41). Dạy xong tiết dạy thực nghiệm thứ hai ở lớp 6B, tôi tiếp tục tiến hành khảo sát, đánh giá nhận thức của học sinh ở cả ba lớp khối 6, tiếp tục đối chứng kết quả của lớp 6B với ba lớp 6A, 6C và 6D. Sau tiết dạy thực nghiệm thứ 2 và qua kết quả của 2 lần kiểm tra, đánh giá, tôi tiếp tục tiến hành rút kinh nghiệm, bổ sung đề tài, tôi triển khai dạy thực nghiệm ở lớp 6B tiết thứ 3: Bài 9. Vì sao cần có hệ điều hành (SGK Tin học 6 trang 62-65). Dạy xong Bài 9, tôi tiến hành kiểm tra, đánh giá mức độ nhận thức của học sinh ở cả 3 lớp qua giờ dạy và học. 2. Kết quả đạt được Kết quả thực nghiệm sau 3 tiết dạy như sau: Lớp A, C, D ( không Lớp B (áp dụng Các mặt theo dõi áp dụng các giải pháp) các giải pháp) Tỉ lệ học sinh yêu thích môn học 23,7% 31,5% Không khí giờ học Trầm Sôi nổi Học sinh tự tin chủ động khi tham Chưa tự tin Đã tự tin gia phát biểu ý kiến. Kết thúc bài, học sinh có thể nắm 38% số học sinh 56% số học sinh và nhắc lại kiến thức. KN của học sinh khi tiếp nhận các Đã sáng tạo và Còn thụ động kiến thức. tích cực KN trình bày bài của học sinh Còn rất lúng túng Đã lưu loát trước tập thể. Điểm khá, giỏi học sinh đạt được 40,3% 58,5 % khi khảo sát.
- 19 Khảo sát tỉ lệ HS yêu thích bộ môn đầu năm và cuối năm học 2020-2021 Lớp Tổng số học sinh Đầu năm Cuối năm 6A 40 18 25 6B 40 10 24 6C 40 12 18 6D 40 11 16 Tổng 160 51 (31,9%) 84 (52,5%) Điểm kiểm tra cuối kỳ I và cuối kỳ II của học sinh Kỳ I Kỳ II Tổng số 160 160 Số bài 5 điểm trở lên (Tỷ lệ) 153 (95,6%) 156 (97,5%) Điểm 5- 6,5 (Tỷ lệ) 28 (17,5%) 22 (13,75%) Điểm 7 - 8,5 (Tỷ lệ) 68 (42,5%) 74 (46,25%) Điểm 9 - 10 (Tỷ lệ) 57 (35,6%) 60 (37,5%) Số bài dưới 2 điểm (Tỷ lệ) 0 (0%) 0 (0%) Điểm tổng kết chất lượng bộ môn cuối năm học của học sinh Số học Giỏi Khá Trung Bình Yếu Lớp sinh SL % SL % SL % SL % 6A 40 26 65 13 32,5 1 2,5 0 0 6B 40 5 12,5 23 57,5 12 30 0 0
- 20 6C 40 9 22,5 18 45 9 22,5 4 10 6D 40 6 15 12 30 18 45 4 10 Tổng 160 46 28,75 66 41,25 40 25 8 5 Nếu so sánh chất lượng với nhiều trường bạn, có thể con số này không cao nhưng với bản thân Tôi và ở trường trung học cơ sở Phong Khê đã chứng tỏ các biện pháp tôi đưa ra góp phần nâng cao hứng thú học tập và chất lượng của bộ môn Tin học. Từ kết quả trên cho thấy việc áp dụng các giải pháp nêu trong báo cáo vào dạy học mang tính khả thi. Học sinh tích cực chủ động, hứng thú trong học tập. Với kết quả đó, tôi mạnh dạn nêu vấn đề và đưa báo cáo này trước hội đồng sư phạm nhà trường, được Ban giám hiệu trường trung học cơ sở Phong Khê cho phép áp dụng trong giảng dạy môn Tin học 7 năm học 2021-2022. Đồng thời tổ chuyên môn và Ban giám hiệu có hướng phát triển các giải pháp này để áp dụng trong giảng dạy Tin học ở các khối lớp 8, 9. Đó là nguồn động viên rất lớn cho Tôi khi tham gia giảng dạy và nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Sang năm học 2021-2022, Tôi tiếp tục áp dụng các giải pháp trình bày trong báo cáo này vào giảng dạy môn Tin học 7. Tổng số học sinh toàn khối 7 là 203 học sinh. Trong đó: 7A: 42 học sinh; 7B: 39 học sinh; 7C: 39 học sinh; 7D: 42 học sinh; 7E: 41 học sinh.

