SKKN Vận dụng một số trò chơi làm tăng hiệu quả trong một số tiết học "Luyện từ và câu" Lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Vận dụng một số trò chơi làm tăng hiệu quả trong một số tiết học "Luyện từ và câu" Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_van_dung_mot_so_tro_choi_lam_tang_hieu_qua_trong_mot_so.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng một số trò chơi làm tăng hiệu quả trong một số tiết học "Luyện từ và câu" Lớp 2
- MỤC LỤC STT NỘI DUNG Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lí do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Đối tượng 1 4 Nhiệm vụ nghiên cứu 1 5 Phương pháp nghiên cứu 1 6 Phạm vi nghiên cứu 2 II. PHẦN NỘI DUNG 3 1 Cơ sở lý luận 3 2 Cơ sở thực tiễn 3 Thuận lợi 3 Khó khăn 4 Nguyên nhân 4 3 Các giải pháp thực hiện 4 4 Kết quả đạt được 8 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 9 1 1.Bài học kinh nghiệm 9 2 2. Kiến nghị 9 Tài liệu tham khảo 10 0
- SÁNG KIẾN: VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI LÀM TĂNG HIỆU QUẢ TRONG MỘT SỐ TIẾT HỌC “LUYỆN TỪ VÀ CÂU” LỚP 2. I.PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Qua thực tế giảng dạy lớp 2 nói chung và ở môn Tiếng Việt 2 nói riêng, tôi nhận thấy rằng: sách giáo khoa Tiếng Việt 2 giúp học sinh hình thành kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe - nói - đọc - viết), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể. Nội dung sách giáo khoa tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cập nhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời đại mới hiện nay. Đối với học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn cần phải được bổ xung và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giao tiếp. Muốn nói hay viết giỏi đều phải dùng từ. Từ là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ. Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn. Cho nên, việc dạy cho học sinh nắm vững Tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn luyện từ và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp học trên. Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu quả, không những đòi hỏi người thầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn sống của trẻ nhằm xây dựng hệ thống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu có từ thuộc chủ đề nhằm bổ xung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ. Ngoài ra người giáo viên phải biết phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp đặc trưng của môn học như phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, tổ chức trò chơi để học sinh được thực sự tham gia xử lí các tình huống có vấn đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả. Một trong những hoạt động tạo được hứng thú học tập cho học sinh rất hiệu quả, học sinh học mà chơi, chơi mà học, nâng cao chất lượng giờ dạy đó là hoạt động trò chơi của học sinh trong học tập. Xuất phát từ nhận thức về vai trò quan trọng trong công việc giảng dạy của phân môn luyện từ và câu ở trương trình lớp 2 cho nên tôi đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài này. 2. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu nội dung cấu trúc để đưa ra một số biện pháp giảng dạy cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy “Luyện từ và câu”, từ đó giúp học sinh học tốt môn này và có khả năng sử dụng Tiếng Việt như một công cụ giao tiếp, học tập. 3. Đối tượng : - Học sinh lớp 2A. Trường TH Cam Thanh 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu cách thức tổ chức trò chơi nhằm nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu lớp 2 trường Tiểu học Cam Thanh. 5. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. 1
- - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm. 6. Phạm vi nghiên cứu: - Áp dụng cho Hs khối 2 - Trường Tiểu học Cam Thanh. Kế hoạch nghiên cứu: + Từ 6/9/2019: Đăng kí sáng kiến; lập kế hoạch, viết đề cương. + Từ 10/9/2019: Khảo sát thực trạng học sinh lớp 2A. + Từ 20/9/2019 đến 25/1/2020:Thực hiện kế hoạch + Từ 21/5/2020: Kiểm tra, đánh giá và hoàn tất sáng kiến kinh nghiệm. + Từ 22/6/2020 đến 4/7/2020 : tiếp tục rà soát, điều chỉnh phương pháp và đúc rút kinh nghiệm. 2
- II. NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận: Phân môn luyện từ và câu là một phân môn không thể thiếu được trong môn Tiếng Việt. Đối với luyện từ nó giúp học sinh: - Nhận biết về nghĩa của từng thành ngữ tục ngữ được gắn với chủ điểm. - Nhận biết tên riêng và biết cách viết tên riêng. - Biết được khoảng 300 đến từ mới ( kể cả thành ngữ, tục ngữ) thuộc các chủ điểm trong sách giáo khoa. - Làm quen với cách giải nghĩa thông thường: bằng định nghĩa, bằng mô tả trực tiếp, bằng cách tìm từ đồng nghĩa hay trái nghĩa. Còn đối với dạy luyện câu là cung cấp nhận biết câu trong lời nói và trong văn bản dựa trên tính tương đối trọn vẹn về ý nghĩa của câu, dựa trên dấu hiệu mở đầu và kết thúc câu trong văn bản. - Nhận biết các bộ phận chính trong những kiểu câu tương ứng phổ biến. - Nhận biết các dấu câu: dấu chấm,dấu chấm hỏi: Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì sao? Để làm gì? - Nhận biết các dấu câu: Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm phẩy. - Có một điều đặc biệt là chương trình lớp 2 quan tâm trú trọng rèn cả 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết để giúp học sinh phát triển toàn diện. Trong đó phân môn luyện từ và câu thực hiện nhiệm vụ cung cấp các tri thức Từ ngữ- Ngữ pháp song song với việc rèn 4 kỹ năng nói trên. 2. Cơ sở thực tiễn: Học sinh khối 2 của trường TH Cam Thanh, đa số các em rất bỡ ngỡ với phân môn mới, đây là một phân môn mà các em bắt đầu làm quen khi bắt đầu chương trình học của lớp 2. Vì vậy, tôi đã tiến hành khảo sát lớp 2A và kết quả là : Giải nghĩa từ Đặt câu Loại S Chưa Chưa Lớp sĩ số Được Được được được 2A 30 15 15 23 7 Thực tế là ở các năm học trước các em cũng vấp phải tình trạng về nghĩa của từ và đặt câu, vì do chương trình GDCN, không bắt buộc các em nắm nghĩa, hay đặt câu ở lớp 1 mà chỉ nói tiếng có vần hay câu đủ ý nên việc hình dung về từ và câu là khó đối với các em. Chính vì điều đó kích thích tôi phải tìm ra những giải pháp làm thế nào để HS có hiểu biết và nắm vững kiến thức môn học cũng như bớt bỡ ngỡ và hứng thú khi học . Đó là lý do tôi chọn sáng kiến “Vận dụng một số trò chơi làm tăng hiệu quả trong một số tiết học “Luyện từ và câu “ lớp 2. 2.1 Thuận lợi: - Các em có sách vở đầy đủ cho phân môn. 3
- - Giáo viên luôn được sự quan tâm của Ngành, cấp trên, đặc biệt là của Ban Giám hiệu nhà trường, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy. - Học sinh ngoan, vâng lời. Phần đông các em đọc viết tốt. Đây là điều thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu 2.2 Khó khăn: Tuy thuận lợi là thế nhưng vẫn còn rất nhiều em còn đọc chậm, nắm chưa chắc từ ngữ. Đồ dùng phục vụ phân môn hầu như không có. 2.3 Nguyên nhân: Đây là một phân môn mới nên còn bỡ ngỡ để các em hiểu và làm quen. Để thuận lợi hơn trong việc giải quết tốt môn học và giúp học sinh nắm vững kiến thức, thích thú với môn học tôi đã đưa ra một số trò chơi nhằm tăng khả năng nhận biết và ham học của Học sinh, tôi đưa ra một số trò chơi như sau: 3. Các giải pháp thực hiện Với những lí do trên, cùng với những băn khoăn, suy nghĩ, trăn trở của mình tôi mạnh dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệu hướng dẫn, thực tế kinh nghiệm giảng dạy trên lớp, trao đổi cùng đồng nghiệp để tìm ra những hoạt động trò chơi cho học sinh phù hợp với từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong lớp.Cụ thể: 3.1. Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng chủ đề: A. Mục đích: - Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh. - Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh. B. Chuẩn bị: Bảng phụ hoặc giấy nháp C. Cách tiến hành - Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3 - 4 học sinh tham gia. - Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề. (VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật nuôi là những con vật nuôi trong nhà ), Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu: + Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm gia đình ). + Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2- 3 phút. + Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm nào có số điểm cao nhất sẽ đứng ở vị trí số 1, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp vào các vị trí 2, 3, 4 Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài luyện từ và câu: - Trong sách giáo khoa Tiếng việt 2, tập 1: + Kể tên các môn em học ở lớp 2 (tuần 7, Tr.59). + Hãy kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ (tuần 13, Tr.108). + Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật (tuần 15, Tr.122). 4
- + Viết tên các con vật trong tranh (tuần 16, Tr.134). - Trong sách giáo khoa TV 2, tập 2: + Nói tên các loài chim trong tranh (tuần 22, Tr.35). + Tìm các từ ngữ có tiếng "biển" (tuần 25, Tr.64). + Kể tên các con vật sống ở dưới nước (tuần 26, Tr.74). + Kể tên các loài cây (tuần 28, Tr.87) + Tìm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp (tuần 33 Tr.129); 3.2. Trò chơi: Tìm từ trái nghĩa A.Mục đích: - Nhận biết nhanh các từ ngữ trái nghĩa, làm giàu vốn từ của học sinh - Luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh, tay. B. Chuẩn bị: - Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn (xanh, đỏ, vàng ) tương tự quân bài trong cỗ tam cúc. Mỗi bộ có 10 hoặc 12 quân bài đã ghi sẵn các từ. - Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quân bài của người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ trái nghĩa với từ được ghi trên quân bài của nguời chơi. - Mỗi quân bài này đều được ghi từ ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm bài trên tay Lười biếng Siêng năng C. Cách tiến hành. Từ hai đến 4 nguời chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12 quân) - Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ bài của nguời chơi). - Những nguời chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ trái nghĩa với quân bài của trọng tài để đánh ra. - Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân bài đó sẽ được ''ăn''; nếu sai thì nguời đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được ''ăn''. Trường hợp 2, 3 người cùng ra quân bài đúng thì cùng được ''ăn''. - Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được ''ăn'' nhiều nhất sẽ thắng cuộc. Như vậy, người thắng là người nhận ra nhanh, đúng từ trái nghĩa. * Chú ý: Các cặp từ trái nghĩa nói về chủ đề của bài học trong các tuần 33,34. 3.3. Trò chơi: Tìm kẻ trú ẩn A. Mục đích: - Mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh. - Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi. 5
- B. Chuẩn bị : - Phóng to tranh có trong hai bài luyện từ và câu ở tuần 6 (Tr.52); tuần 11(Tr.90) - sách giáo khoa TV 2 tập 1. - Mỗi nhóm chơi (4; 5 học sinh ) cần chuẩn bị giấy, bút (ghi sẵn tên nhóm vào giấy khổ to đã chuẩn bị. VD: Nhóm Mực tím; nhóm Tuổi thơ ) - Băng dính hoặc hồ dán. C. Cách tiến hành : 1. Giáo viên nêu yêu cầu: Tìm số đồ vật được vẽ ẩn trong tranh (gọi là kẻ trú ẩn) rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị. Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ số lượng đồ vật (tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất. 2. Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra (hoặc trong sách giáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số lượng mỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút) 3. Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng. Giáo viên hướng dẫn cả lớp hô ''đúng'' (hoặc ''sai'', hoặc ''thiếu'') giáo viên trợ giúp việc xác nhận kết quả của từng nhóm. - Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng đồ vật tìm được để xếp giải nhất, nhì, ba (có thể xếp đồng giải nhất, nhì, ba hoặc yêu cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng). * Chú ý: Trò chơi này áp dụng cho bài tập 3 tiết luyện từ và câu tuần 6 - Tr.52; bài tập 1 tiết luyện từ và câu tuần 11- Tr.90. 3.4. Trò chơi: Thi ghép từ tiếng thành từ A. Mục đích: - Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng. - Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn. B. Chuẩn bị : - Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và câu tuần 12 (sách giáo khoa TV 2 tập 1- Tr.99) Giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh tham gia thi); mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm . Mỗi bộ gồm 24 quân ghi các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6 quân); kính (3 quân). - Băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng thành một từ (2 tiếng). C. Cách tiến hành: 1. Căn cứ vào số bộ quân bài đã chuẩn bị, giáo viên lập các nhóm thi ghép tiếng thành từ (mỗi nhóm khoảng 4; 5 học sinh ); Cử nhóm trưởng điều hành và vào ban giám khảo. VD: Có 4 bộ quân bài - lập 4 nhóm thi - cử 4 nhóm trưởng tham gia vào ban giám khảo cùng với giáo viên . 2. Giáo viên nêu yêu cầu: - Mỗi nhóm có 1 bộ quân bài ghi các tiếng dùng để ghép thành các từ có 2 tiếng, các nhóm dùng bộ quân bài để ghép từ (xếp lên mặt bàn, hoặc dùng băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng lại để thành 1 từ). - Sau khoảng 5 phút, các nhóm dừng lại; ban giám khảo (Giáo viên cùng các nhóm trưởng) lần lượt đi đến từng nhóm để ghi kết quả và cho điểm (cứ xếp được 1 từ đúng, được 1 điểm). 6
- 3. Giáo viên trao các bộ bài cho các nhóm thi ghép từ; phát lệnh ''bắt đầu'' cho các nhóm làm bài. Ban giám khảo đánh giá kết quả ghép từ theo nội dung bộ bài đã chuẩn bị (mục B) như sau: - Ghép đúng, đủ 12 từ (mỗi từ có 2 tiếng) VD: Yêu thương, thương yêu, yêu mến, mến yêu, kính yêu, yêu kính, yêu quý, quý yêu, thương mến, mến thương, quý mến, kính mến. - Ghép đúng mỗi từ được 1 điểm; đúng cả 12 từ được 12 điểm. - Dựa vào điểm số, ban giám khảo xếp giải nhất, nhì, ba, (hoặc đồng giải nhất, nhì, ba) 3.5. Trò chơi: Xếp từ theo nhóm A. Mục đích: - Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau của sự vật mà từ gọi tên. - Rèn trí thông minh, khả năng phân tích, khái quát nhanh của đối tượng. B. Chuẩn bị : - Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm. VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm: + Ngô, khoai, bắp cải, bí. + Ngô, lúa, su su, sắn, mướp - Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu. C. Cách tiến hành : 1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ, nêu luật chơi. VD: Dựa vào những đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong bộ bài (bảng từ) hãy sắp xếp các từ trong bộ bài thành 2; 4 nhóm. 2. Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày các quân bài ra, đọc một lượt các từ rồi dựa đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động .(cũng là nghĩa của từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm hoặc dùng bút đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2) 3. Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại được đúng và nhanh sẽ được tính điểm và được khen thưởng (mỗi từ phân loại đúng được tính 1 điểm) * Chú ý: trò chơi áp dụng cho các tiết luyện từ và câu sách giáo khoa TV 2 tập 2. - Tuần 23 Tr.45 (bài tập 1) - Tuần 26 Tr.73 (bài tập 1) 3.6. Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu: (AI LÀ GÌ?) A. Mục đích: - Rèn kĩ năng nói, viết câu đúng mẫu: Ai là gì? có sự tương hợp về nghĩa giữa thành phần trả lời cho câu hỏi Ai( cái gì, con gì)? hay trả lời cho câu hỏi là gì? - Luyện trí so sánh, liên tưởng nhanh, tác phong nhanh nhẹn. B. Chuẩn bị : 7
- - Giáo viên chuẩn bị một số từ ngữ (chỉ người, đồ vật, con vật) phù hợp với đối tượng học sinh lớp 2, phục vụ cho việc dạy các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì? trong sách giáo khoa TV2 C. Cách tiến hành : - Những người chơi chia thành từng cặp (2 người) hoặc thành 2 nhóm (A; B) Người thứ nhất hoặc học sinh ở nhóm thứ nhất nêu vế đầu. (VD: Học sinh); người thứ 2 (hoặc học sinh ở nhóm thứ 2) nêu vế thứ (VD: Là người đi học). Sau đó 2 người (hoặc 2 nhóm) đổi lượt cho nhau. Người nào (hoặc nhóm nào) không nêu được sẽ bị trừ điểm. Hết giờ chơi, ai hoặc nhóm nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng cuộc. * Chú ý: Các kiểu mẫu câu khác (Ai làm gì? Ai thế nào? ) có thể tiến hành tương tự. 4. Kết quả đạt được: Giải nghĩa từ Đặt câu Loại S Chưa Chưa Lớp sĩ số Được Được được được 2A 30 26 4 28 2 8
- III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Bài học kinh nghiệm: Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn áp dụng các trò chơi phù hợp trong mỗi bài tập, mỗi tiết dạy. Kết quả thu được là các em tiếp thu bài tốt, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả. Chất lượng học sinh học môn Tiếng Việt nâng lên rõ rệt. Câu văn của các em ít có từ dùng sai hơn. Đặc biệt rèn kĩ năng nói, diễn đạt của các em rất mạch lạc, phong phú, tự nhiên. Nhiều câu văn hay, từ ngữ gây sự bất ngờ thú vị, có sức gợi cảm lớn. Điều đó chứng tỏ vốn từ của các em được nâng lên, các em biết sử dụng vốn từ một cách hợp lý hơn, sinh động hơn. Sau mỗi giờ học gây được sự sảng khoái ham thích học tập. Qua đó tôi đã rút ra cho mình những kinh nghiệm là: - Phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của phân môn (củng cố và mở rộng vốn từ, giải nghĩa từ, sử dụng từ) để có các hình thức tổ chức và phương pháp dạy cho phù hợp, tránh dạy nhồi nhét, cứng nhắc áp đặt; mất hứng thú cho trẻ. - Giáo viên phải tự trau dồi cho mình có kiến thức từ ngữ phong phú, ngôn ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trong sáng gần gũi đời sống ngôn ngữ trẻ thơ. - Phân loại đối tượng học sinh trong lớp (vốn từ, đặt câu ) để có biện pháp giúp đỡ, động viện sự cố gắng của các đối tượng trong lớp. - Lựa chọn hệ thống phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với nội dung bài dạy và đối tượng học sinh trong lớp tạo nên sự hoạt động đồng bộ giữa thầy và trò, tạo sự hứng thú học tập của học sinh một cách tự nhiên, thoải mái. Để đạt yêu cầu đó yêu cầu giáo viên phải biết khai thác vốn kiến thức của trẻ vào việc xây dựng kiến thức bài học. 2. Kiến nghị: * Nhà trường: - Quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy các bài tập phần luyện câu trong sách giáo khoa chủ yếu là các bài tập . Vậy cần bổ sung thêm đồ dùng phù hợp cho phân môn luyện từ và câu nói riêng. Mặc dù đề tài còn nhiều hạn chế nhưng đây cũng là năm đầu thực hiện nên đề tài cũng còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự giúp đỡ của tất cả đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để đề tài của tôi được hoàn thiện. XÁC NHẬN CỦA Thanh An, ngày 06 tháng 07 năm 2020. HIỆU TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Phạm Thị Toan 9
- TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Tiếng Việt lớp 2 nhà xuất bản giáo dục. Sách Giáo viên Tiếng Việt lớp 2 nhà xuất bản giáo dục. Một số trò chơi dành cho học sinh Tiểu học nhà xuất bản giáo dục. Những bài tập trắc nghiệm của môn: Luyện từ và câu lớp 2 nhà xuất bản giáo dục. Tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu học. Tác giả: Lê Phương Nga. Tổ chức dạy Tiếng Việt theo phương pháp thực hành. Tác giả Phan Thều – Hồng Hạnh. 10

